Một quyết định trong doanh nghiệp không phải là kết quả của riêng một chữ ký. Trước khi được phê duyệt và triển khai, mỗi quyết định thường đi qua nhiều khâu: đề xuất, tham mưu, phân tích phương án, nhận diện rủi ro, trao đổi giữa các đơn vị và tổ chức thực hiện. Ngược lại, một việc không được quyết định hoặc triển khai cũng có thể tạo ra chi phí cho doanh nghiệp: hợp đồng không được ký, phương án không được thực hiện, cơ hội thị trường bị bỏ qua. Những chi phí ấy thường khó đo đếm.
Trong môi trường đó, làm thế nào để những người tham gia vào quá trình đề xuất, tham mưu và thực hiện công việc có thể chủ động xử lý trong phạm vi trách nhiệm của mình, đồng thời vẫn kiểm soát được rủi ro? Cơ chế bảo vệ người dám làm vì vậy không chỉ được đặt ra đối với người ra quyết định cuối cùng. Nó cần được nhìn từ cả quá trình hình thành và thực hiện một quyết định, trong đó mỗi người tham gia đều phải có căn cứ để hành động và chịu trách nhiệm về phần việc của mình.
Khi “không quyết” cũng tạo ra chi phí
Khi nói đến lãng phí trong khu vực nhà nước, người ta thường nghĩ đến những khoản chi sai mục đích hay những công trình đầu tư kém hiệu quả. Có một dạng lãng phí khó nhận diện hơn: nguồn lực đã có mà không được sử dụng, cơ hội đã thấy mà không được nắm bắt, vướng mắc đã rõ nhưng không được xử lý kịp thời. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79) cũng chỉ ra tình trạng “một số tồn tại, vướng mắc kéo dài, chưa được xử lý kịp thời, gây lãng phí, thất thoát”¹.
Ngay ở khu vực ngân sách, nơi chủ trương và nguồn lực đều đã rõ, hiện tượng này vẫn xuất hiện. Tính đến ngày 12/5/2026, vốn năm 2026 cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới giải ngân được 14,78% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Tại hội nghị ngày 19/5/2026 về tháo gỡ vướng mắc trong lĩnh vực này, bên cạnh các khó khăn về cơ chế lập dự toán và phân bổ kinh phí, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chỉ ra nguyên nhân chính là sự thiếu chủ động, quyết tâm, quyết liệt trong tổ chức thực hiện.
Trong doanh nghiệp nhà nước, đây cũng là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình nâng cao hiệu quả quản trị. Một quyết định dẫn đến kết quả không như dự kiến luôn để lại dấu vết trong hồ sơ: có phương án được chọn, có ý kiến tham mưu, có phê duyệt và có kết quả để đối chiếu. Còn một phương án không được triển khai thì gần như không để lại dấu vết nào. Người làm tài chính – kế toán thấy rõ điều này: sổ sách ghi nhận đầy đủ khoản lỗ chênh lệch tỷ giá khi một khoản thanh toán ngoại tệ được thực hiện, nhưng trong hệ thống tài khoản không có chỗ nào ghi nhận chi phí của một giao dịch lẽ ra nên làm mà không làm.
Có những trường hợp chi phí của việc chậm xử lý lại rất cụ thể. Trong công tác đối soát, một khoản chênh lệch được phát hiện, giải trình và xử lý sớm thường khá gọn. Nếu khoản đó bị để treo qua nhiều kỳ vì chưa ai muốn đứng tên đề xuất phương án xử lý, chứng từ sẽ khó truy lại, đầu mối phía đối tác có thể đã thay đổi; với giao dịch thẻ, thời hạn xử lý tranh chấp theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế có thể đã qua. Khi đó, một khoản chênh lệch nhỏ ban đầu có thể trở thành khoản không còn thu hồi được.
Khi rủi ro của việc làm thì hiện ra rõ, còn chi phí của việc không làm thì khó đo đếm, người xử lý công việc dễ nảy sinh tâm lý thận trọng quá mức: chờ thêm ý kiến, bổ sung thêm thủ tục, hoặc chuyển vấn đề lên cấp cao hơn dù chưa thực sự cần. Xét riêng từng trường hợp, lựa chọn đó đều dễ hiểu, vì ai cũng muốn giảm rủi ro cho mình. Nhưng khi đã thành thói quen ở nhiều khâu, cả doanh nghiệp sẽ chậm đi. Đó cũng là lý do Nghị quyết 79 yêu cầu kiên quyết thay thế, miễn nhiệm những người thiếu trách nhiệm, yếu kém, làm trì trệ, kìm hãm sự phát triển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Khung chính sách ngày càng cụ thể
Chủ trương bảo vệ người dám làm không mới. Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị đã đặt ra chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, sau đó được Chính phủ cụ thể hóa tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP. Với khu vực doanh nghiệp, Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/8/2025, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Năm 2026, chủ trương này có thêm những quy định cụ thể hơn. Nghị quyết 79 yêu cầu xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung trong các trường hợp không có yếu tố tham nhũng, vụ lợi; đồng thời thiết lập quy trình xem xét độc lập, toàn diện và minh bạch để đánh giá bản chất vụ việc là sai sót khách quan hay vi phạm pháp luật.
Ngày 24/8/2026, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 37/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số (Nghị quyết 37). Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/9/2026 và được thực hiện trong 03 năm.
Theo Điều 5 Nghị quyết 37, cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: không tham nhũng; vì lợi ích chung; hoạt động liên quan đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã được giải quyết dứt điểm; không gây thất thoát, lãng phí tài sản, hoặc đã khắc phục toàn bộ hậu quả. Điều 6 quy định người gây thiệt hại do gặp rủi ro trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy định và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, thì được loại trừ trách nhiệm hình sự.
Cần đọc các quy định này đúng phạm vi. Nghị quyết 37 không phải là cơ chế miễn trách nhiệm cho mọi thua lỗ; khoản 6 Điều 3 yêu cầu xử lý nghiêm hành vi lợi dụng Nghị quyết để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che vi phạm. Với người làm việc trong doanh nghiệp, điều đáng chú ý hơn là nguyên tắc tại khoản 2 Điều 3: khi xử lý phải xem xét kỹ vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm, bối cảnh lịch sử cụ thể và hậu quả thiệt hại.
Muốn bảo vệ người dám làm, phải có căn cứ để đánh giá
Đặt các điều kiện nêu trên cạnh nhau sẽ thấy một điểm chung: gần như tất cả đều cần đến bằng chứng. “Vì lợi ích chung”, “tuân thủ đúng quy trình”, “áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa” hay “bối cảnh lịch sử cụ thể” đều không thể chứng minh chỉ bằng lời giải thích sau khi sự việc đã xảy ra.
Khó khăn nằm ở chỗ những câu hỏi này thường được đặt ra vài năm sau, khi hậu quả đã xuất hiện. Lúc đó kết quả hiện ra rất rõ, còn bối cảnh ban đầu đã mờ đi. Khoa học hành vi gọi đây là thiên kiến nhìn lại (hindsight bias): khi đã biết kết cục, con người có xu hướng cho rằng kết cục ấy vốn dễ thấy trước. Nếu hồ sơ chỉ gồm một tờ trình ghi kết luận và một chữ ký phê duyệt, không thể hiện các phương án đã cân nhắc, rủi ro đã nhận diện và những ý kiến khác nhau đã được ghi nhận, thì rất khó phân biệt một sai sót khách quan với một hành vi cố ý làm trái.
Người làm kế toán vốn quen với cách phân biệt này. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 coi ước tính kế toán là sự xét đoán dựa trên “những thông tin tin cậy nhất và mới nhất tại thời điểm đó”; khi có thêm thông tin mới, ước tính được xem xét lại và việc điều chỉnh này không phải là sửa chữa sai sót. Sai sót, theo chuẩn mực này, là trường hợp đã không sử dụng hoặc sử dụng không đúng những thông tin đáng tin cậy có sẵn vào lúc đó. Đánh giá một quyết định quản trị cũng nên theo cách nghĩ ấy: câu hỏi không phải là kết quả về sau tốt hay xấu, mà là người quyết định đã dùng đầy đủ và đúng những thông tin có được tại thời điểm quyết định hay chưa.
Vì vậy, cơ chế bảo vệ người dám làm có thể được áp dụng ở khâu hậu kiểm, nhưng bằng chứng cho nó phải được tạo ra ngay khi công việc được chuẩn bị và thực hiện. Trong kế toán, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải có chứng từ. Với một quyết định quản trị, “chứng từ” chính là hồ sơ thể hiện căn cứ, phương án và rủi ro tại thời điểm quyết định. Nghị quyết 79 yêu cầu áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Hậu kiểm càng được đề cao thì loại “chứng từ” này càng quan trọng.
Cùng một bộ hồ sơ có thể phục vụ cả hai mục tiêu: bảo vệ người làm đúng và kiểm soát người làm sai. Một phương án ghi rõ căn cứ, các lựa chọn đã xem xét, rủi ro và biện pháp phòng ngừa là cơ sở để giải thích vì sao phương án đó được chọn. Ngược lại, một quyết định lớn không có lý do rõ ràng, hoặc có dấu hiệu che giấu xung đột lợi ích, lại là tín hiệu cảnh báo cho công tác kiểm tra, giám sát. Nghị quyết 79 cũng yêu cầu doanh nghiệp nhà nước thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích.

Phát huy vai trò của chi bộ từ những việc thiết thực
Doanh nghiệp nhà nước có bộ máy điều hành riêng, tổ chức đảng không làm thay bộ máy đó. Nhưng chi bộ gắn với phòng, ban chuyên môn lại là nơi gần nhất với từng tờ trình, từng hợp đồng, từng khoản thanh toán; đảng viên trong chi bộ cũng chính là những người trực tiếp đề xuất, tham mưu và thực hiện công việc. Vì thế, đưa chủ trương bảo vệ người dám làm vào thực tế có thể bắt đầu ngay từ chi bộ.
Trước hết là chuẩn hóa phần giải trình đối với những quyết định quan trọng. Không cần thêm một thủ tục nặng nề. Với quyết định có giá trị hoặc mức độ rủi ro đáng kể, tờ trình chỉ cần thêm một phần ngắn trả lời mấy câu hỏi: vì sao cần xử lý vào thời điểm này; đã cân nhắc những phương án nào; rủi ro chính là gì và phòng ngừa ra sao; có ý kiến khác không và đã xử lý thế nào; có xung đột lợi ích cần lưu ý không. Với phương án có yếu tố tài chính, nên nêu rõ các giả định đầu vào như tỷ giá, lãi suất, giá nhiên liệu đã dùng để tính toán, và kết quả sẽ thay đổi ra sao nếu các giả định đó thay đổi. Mục tiêu là làm rõ căn cứ của phương án, không phải tạo thêm giấy tờ. Đảng viên có thể làm trước việc này trong chính những tờ trình mình soạn thảo, coi đó là một cách gương mẫu cụ thể trong công việc chuyên môn.
Cùng với đó, kiểm tra, giám sát nên nhìn vào quá trình chứ không chỉ nhìn vào kết quả. Trong sinh hoạt chuyên đề, chi bộ có thể chọn một vài công việc đã xử lý trong đơn vị để cùng rà lại: quyết định đã được cân nhắc đủ chưa, rủi ro đã được nêu chưa, ý kiến khác đã được xem xét chưa. Cách làm này giúp phát hiện vấn đề sớm, đồng thời ghi nhận những trường hợp người tham gia đã làm đúng trách nhiệm dù kết quả cuối cùng không như kỳ vọng.
Một điểm khác cần được nhìn nhận là “việc không làm”. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ bảo đảm thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh giá cán bộ”. Ở cấp chi bộ, yêu cầu này có thể thể hiện ngay trong việc nhận xét, đánh giá đảng viên hằng năm: bên cạnh sai sót đã xảy ra, cần nhìn cả những việc được giao nhưng bị trì hoãn, né tránh hoặc chuyển vòng qua nhiều cấp mà không có lý do cần thiết. Nếu sự chậm trễ không có căn cứ cũng phải giải trình, đơn vị sẽ có cách nhìn đầy đủ hơn về cả rủi ro của hành động lẫn chi phí của việc không hành động.
Khi có sự cố, việc đánh giá cũng cần dựa trên quá trình. Với người tham gia đề xuất, tham mưu và thực hiện, hồ sơ là căn cứ để giải thích vì sao phương án đó được lựa chọn. Với công tác kiểm tra, đó là cơ sở để xem quá trình có đúng thẩm quyền, đúng quy trình và có kiểm soát rủi ro hay không. Chi bộ có trách nhiệm lắng nghe, xem xét khách quan và bảo vệ đảng viên đã làm đúng. Ngược lại, nếu hồ sơ cho thấy dấu hiệu vụ lợi, che giấu thông tin hoặc cố ý làm trái, cơ chế bảo vệ không thể trở thành chỗ dựa để bao che.
Gắn yêu cầu với thực tiễn công việc
Yêu cầu trên càng rõ trong một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong môi trường cạnh tranh quốc tế như Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Nghị quyết 79 xếp vận tải, logistics vào nhóm ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược. Trong ngành hàng không, nhiều quyết định về giá bán, mạng đường bay, đối tác, hợp đồng dịch vụ hay phương án khai thác phải được xử lý trong điều kiện giá nhiên liệu, tỷ giá và nhu cầu thị trường biến động liên tục. Chậm một nhịp có thể làm mất cơ hội kinh doanh.
Ở chiều ngược lại, Vietnam Airlines quản lý khối tài sản và dòng tiền lớn của Nhà nước, nên yêu cầu kiểm soát, giải trình và tuân thủ cũng rất cao. Hai yêu cầu này không loại trừ nhau. Vấn đề là phải tổ chức được một quy trình để công việc được xử lý kịp thời mà vẫn có đủ căn cứ kiểm soát.
Với những người làm công tác tài chính – kế toán như chúng tôi, bài toán này xuất hiện gần như hằng ngày. Lấy ví dụ một giao dịch mua bán ngoại tệ có giá trị lớn: chênh lệch vài đồng trên mỗi đô la Mỹ giữa các ngân hàng, hay giữa hôm nay và ngày mai, nhân với quy mô giao dịch đã thành một con số đáng kể. Nếu hồ sơ ghi rõ các báo giá đã thu thập, lý do chọn ngân hàng và chọn thời điểm, thì dù sau đó tỷ giá biến động theo chiều bất lợi, người thực hiện vẫn giải thích được quyết định của mình, còn người kiểm tra có cơ sở để đánh giá đúng. Nếu thiếu những ghi chép ấy, lựa chọn an toàn nhất cho cá nhân lại là chờ thêm, hỏi thêm, và chi phí của sự chờ đợi do doanh nghiệp gánh.
Không riêng giao dịch ngoại tệ, một phương án thanh toán, một hợp đồng dịch vụ, một ước tính kế toán cần chốt khi lập báo cáo tài chính hay một vấn đề phát sinh với đơn vị trong và ngoài nước cũng cần nhiều bộ phận cùng tham gia. Người đề xuất cần nêu rõ vấn đề; bộ phận tham mưu cần phân tích phương án và rủi ro; cấp có thẩm quyền cần có đủ thông tin để quyết định; người thực hiện cần có căn cứ để triển khai và kiểm soát rủi ro trong phạm vi công việc của mình. Khi cần kiểm tra lại, hồ sơ phải cho thấy được toàn bộ quá trình đó.
Nếu quy trình chỉ tập trung vào việc xin ý kiến và phê duyệt mà không làm rõ trách nhiệm của từng khâu, người tham gia dễ có xu hướng đẩy vấn đề lên cấp cao hơn. Ngược lại, nếu mỗi khâu đều có căn cứ rõ ràng, quyền hạn và trách nhiệm được xác định, việc xử lý có thể nhanh hơn mà không phải nới lỏng kiểm soát. Đó cũng là cách chuyển từ tư duy “không sai” sang tư duy quản trị rủi ro: chấp nhận rằng kinh doanh luôn có biến động, nhưng yêu cầu mỗi rủi ro phải được nhận diện, cân nhắc và kiểm soát trong phạm vi có thể.
Bảo vệ người dám làm, nhìn từ cả quá trình
Bảo vệ người dám làm không bắt đầu khi sai sót đã xảy ra. Nó bắt đầu từ cách một vấn đề được đưa ra, cách các phương án được phân tích, cách ý kiến khác nhau được ghi nhận và cách trách nhiệm được phân định. Đây cũng là điểm gặp nhau giữa yêu cầu khuyến khích sự chủ động, sáng tạo với yêu cầu kiểm soát và phòng ngừa sai phạm.
Với doanh nghiệp nhà nước, điều này càng quan trọng. Không thể yêu cầu người lao động, cán bộ, đảng viên chủ động xử lý công việc nhưng lại chỉ đánh giá họ bằng kết quả cuối cùng, tách khỏi điều kiện và thông tin tại thời điểm quyết định. Đồng thời, cũng không thể lấy lý do “dám làm” để bỏ qua những dấu hiệu vụ lợi, thiếu trách nhiệm hoặc cố ý vi phạm.
Phương châm kết hợp “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, chiến lược, lâu dài, tiếp tục được Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh trong năm 2026. Ở doanh nghiệp, “xây” có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: một tờ trình có đủ căn cứ, một cuộc họp ghi rõ các ý kiến chính, một phương án nêu rõ rủi ro, một quyết định xác định được trách nhiệm thực hiện và một cơ chế kiểm tra nhìn vào cả quá trình.
Khi lý do của một phương án được nói rõ và lưu lại, người tham gia công việc có căn cứ để chịu trách nhiệm về phần việc của mình, người kiểm tra có cơ sở để đánh giá đúng bối cảnh, còn những dấu hiệu bất thường cũng khó bị che khuất. Đó là một cách thiết thực để chủ trương bảo vệ người dám làm đi vào công việc hằng ngày của doanh nghiệp.

















