
Đổi mới từ đặc thù địa bàn rộng, lực lượng phân tán
Chi bộ Địa phương 2 thuộc Đảng bộ Chi nhánh Việt Nam, Đảng bộ Tổng công ty Hàng không Việt Nam, gồm 8 chi nhánh sân bay địa phương trên địa bàn Quảng Trị, Huế, Quảng Nam (cũ), Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa. Với phạm vi hoạt động rộng, điều kiện kinh tế – xã hội, địa lý và đặc thù công việc khác nhau, việc bảo đảm sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức sinh hoạt Đảng đặt ra nhiều yêu cầu đối với cấp ủy.
Hiện Chi bộ có 59 đảng viên trên tổng số 113 cán bộ, nhân viên, chiếm khoảng 52%. Phần lớn cán bộ, đảng viên làm việc theo ca, kíp, duy trì hoạt động liên tục, kể cả các dịp lễ, Tết, nhằm bảo đảm công tác phục vụ hành khách và khai thác sân bay thông suốt.
Đặc thù này khiến việc tập trung đầy đủ đảng viên tại cùng một địa điểm, thời điểm gặp nhiều khó khăn. Khoảng cách giữa các chi nhánh cùng sự khác biệt về thời gian làm việc cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức sinh hoạt, triển khai nghị quyết, phổ biến chủ trương, chính sách và thực hiện các chuyên đề.
Trong khi đó, nếu duy trì phương thức tổ chức truyền thống một cách cứng nhắc, việc truyền đạt thông tin dễ phát sinh độ trễ, hạn chế sự tham gia của đảng viên và gia tăng áp lực hành chính.
Từ thực tế đó, Chi bộ Địa phương 2 xác định chuyển đổi số là một trong những giải pháp quan trọng để đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm nề nếp sinh hoạt Đảng, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của mỗi đảng viên.
Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức làm việc trực tiếp, Chi bộ từng bước ứng dụng các nền tảng số trong công tác tuyên truyền, quản lý, điều hành và tổ chức sinh hoạt, phù hợp với điều kiện lực lượng phân tán tại nhiều địa phương.
Đưa công nghệ vào từng hoạt động của chi bộ
Một trong những nội dung được Chi bộ Địa phương 2 chú trọng là đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng. Các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nội dung chỉ đạo của cấp trên được cập nhật, truyền tải thường xuyên qua các kênh phù hợp, giúp đảng viên tiếp cận thông tin kịp thời dù đang công tác tại những địa bàn khác nhau.
Việc ứng dụng nền tảng số giúp quá trình truyền đạt thông tin nhanh chóng, liên tục và có hệ thống hơn, trong khi vai trò lãnh đạo, định hướng của cấp ủy tiếp tục được giữ vững.
Cùng với công tác tuyên truyền, Chi bộ từng bước số hóa các nội dung phục vụ sinh hoạt Đảng như hoàn thiện, quản lý hồ sơ đảng viên điện tử; cung cấp, lưu trữ tài liệu trực tuyến; quản lý việc tham dự; tổng hợp ý kiến đóng góp và thực hiện một số thủ tục hành chính Đảng.
Những thay đổi này giúp rút gọn thao tác, giảm thời gian xử lý công việc, tạo thuận lợi cho đảng viên tham gia sinh hoạt, nhất là trong những trường hợp không thể tập trung trực tiếp tại một địa điểm.

Đảng viên cũng được khuyến khích và yêu cầu chủ động thực hiện các thao tác trên nền tảng số, từ xác nhận tham dự, báo vắng đến tiếp nhận tài liệu và đóng góp ý kiến. Việc chuẩn hóa quy trình góp phần giảm khối lượng công việc tổng hợp của cấp ủy, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng cá nhân.
Đặc biệt, dưới sự chỉ đạo, khuyến khích của Đảng ủy Chi nhánh Việt Nam, từ đầu năm 2026, Chi bộ bắt đầu xây dựng và cung cấp nội dung sinh hoạt trên nền tảng số theo hướng có hệ thống, giúp đảng viên thuận tiện nghiên cứu trước và chủ động tham gia thảo luận.
Qua quá trình triển khai, nội dung sinh hoạt và mức độ đóng góp ý kiến của đảng viên có chuyển biến tích cực, chất lượng sinh hoạt chi bộ tiếp tục được duy trì ở mức cao.
Đáng chú ý, từ tháng 7/2026 đến nay, 100% đảng viên Chi bộ Địa phương 2 đã thực hiện đóng đảng phí trên môi trường điện tử, góp phần bảo đảm tính chính xác, kịp thời và minh bạch trong công tác quản lý.
Bên cạnh đổi mới phương thức sinh hoạt, Chi bộ còn chú trọng xây dựng mạng lưới kết nối giữa cấp ủy và các tổ đảng tại từng địa phương. Các kênh trao đổi, phối hợp trên môi trường số giúp thông tin được truyền tải nhanh chóng, tăng cường sự gắn kết giữa cấp ủy, đảng viên và cán bộ, nhân viên, bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Công nghệ thông tin cũng được ứng dụng trong công tác kiểm tra, giám sát và quản lý đảng viên. Việc kết hợp hình thức trực tiếp và gián tiếp giúp cấp ủy thường xuyên nắm bắt tình hình, theo dõi việc thực hiện nhiệm vụ, kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nền nếp sinh hoạt Đảng.
Song song với các giải pháp chuyển đổi số, Chi bộ tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua, hoạt động xã hội, văn hóa và phong trào thanh niên tại từng tổ đảng. Những hoạt động này góp phần phát huy tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo, sự đoàn kết trong đội ngũ cán bộ, người lao động, tạo điều kiện phát hiện, bồi dưỡng các nhân tố tích cực và phát triển nguồn đảng viên mới.
Từ giải pháp thực tiễn đến khả năng nhân rộng
Sau quá trình triển khai, việc ứng dụng chuyển đổi số đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức sinh hoạt của Chi bộ Địa phương 2.
Trước hết, nề nếp sinh hoạt Đảng được duy trì, việc triển khai nhiệm vụ diễn ra tương đối liên tục, hạn chế ảnh hưởng từ khoảng cách địa lý và thời gian làm việc theo ca, kíp. Các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị và nội dung chỉ đạo của cấp trên được truyền tải nhanh chóng đến từng tổ đảng, góp phần bảo đảm sự thống nhất trong nhận thức và hành động.
Việc số hóa tài liệu, thủ tục và một số quy trình quản lý giúp giảm thời gian xử lý công việc hành chính, tạo điều kiện để cấp ủy tập trung nhiều hơn vào công tác lãnh đạo, giáo dục chính trị tư tưởng và thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số từng bước hình thành phương thức làm việc chủ động, khoa học và minh bạch. Đảng viên có điều kiện tiếp cận thông tin, nghiên cứu tài liệu, đóng góp ý kiến thuận lợi hơn; cấp ủy có thêm công cụ theo dõi, tổng hợp và điều hành công việc.
Những chuyển biến này góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi đảng viên và khả năng thích ứng của Chi bộ trước yêu cầu quản lý, điều hành trên địa bàn rộng, lực lượng làm việc phân tán.

Từ thực tiễn triển khai, Chi bộ Địa phương 2 xác định hiệu quả chuyển đổi số cần được nhìn nhận ở giá trị lâu dài. Công nghệ là công cụ hỗ trợ, còn mục tiêu cốt lõi vẫn là nâng cao chất lượng lãnh đạo của tổ chức Đảng, phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên, tăng cường sự gắn kết trong tập thể và phục vụ tốt hơn việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn.
Mô hình tại Chi bộ Địa phương 2 cũng cho thấy khả năng tiếp tục hoàn thiện, chia sẻ và từng bước nhân rộng tại những tổ chức Đảng có đặc điểm tương đồng, nhất là các đơn vị có địa bàn hoạt động rộng, lực lượng lao động phân tán hoặc thường xuyên làm việc theo ca, kíp.
Để triển khai hiệu quả, việc nhân rộng cần lựa chọn những nội dung phù hợp với điều kiện từng đơn vị, chuẩn hóa quy trình, bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ đầy đủ các quy định, nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.
Về lâu dài, việc hình thành hệ sinh thái số hỗ trợ công tác Đảng được kỳ vọng góp phần hiện đại hóa phương thức quản lý, tăng cường kết nối giữa các tổ chức, cá nhân và nâng cao hiệu quả phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ.
Từ yêu cầu thực tiễn của một chi bộ có địa bàn phân tán, những giải pháp tại Chi bộ Địa phương 2 cho thấy chuyển đổi số có thể trở thành công cụ thiết thực để đổi mới phương thức hoạt động, lan tỏa tinh thần chủ động, kỷ luật và trách nhiệm, góp phần xây dựng tổ chức Đảng ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

















