[Búa liềm vàng 2026] Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm và thực hành liêm, chính

Từ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, tác giả chỉ ra những nét đặc sắc trong tư tưởng của Người, yêu cầu cán bộ phải đi trước làm gương, đưa ra giải pháp thiết thực để rèn luyện.

1. Từ nền tảng đạo đức đến mệnh lệnh sinh tồn của doanh nghiệp

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Đạo đức chính là cái gốc của con người, là nền tảng vững chắc nhất để mỗi cá nhân trưởng thành và vượt qua những cám dỗ trong cuộc sống.

Nhìn rộng ra bình diện một quốc gia hay một tổ chức, đạo đức và kỷ cương chính là sinh mệnh. Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn từng đúc rút và để lại lời cảnh báo sâu sắc về 5 nguy cơ đe dọa sự tồn vong của một quốc gia (ngũ họa): “Trẻ không kính già; Trò không trọng thầy; Binh kiêu tướng thoái; Tham nhũng tràn lan; Sĩ phu ngoảnh mặt”. Trong năm đại họa ấy, sự suy đồi về đạo đức, sự lộng hành của tư lợi cá nhân và sự vô kỷ luật chính là sức mạnh tàn phá cơ đồ nhanh nhất.

Từ tầm nhìn lịch sử soi chiếu vào thực tiễn kinh doanh của chúng ta, bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Đối với Chi nhánh Tổng công ty Hàng không Việt Nam – CTCP – Công ty Bay Dịch vụ Hàng không (VASCO), đạo đức nghề nghiệp và đạo đức kinh doanh không phải là những khái niệm trừu tượng. Tư tưởng cốt lõi về “Tiết kiệm, Liêm, Chính” chính là cái gốc để VASCO tồn tại và phát triển. Đánh mất chữ “Liêm”, sẽ làm thất thoát tài sản, mất uy tín với đối tác; không nghiêm khắc thực hiện chữ “Chính”, chúng ta đánh cược tính mạng hành khách và an toàn bay; không thực hiện “Tiết kiệm”, chúng ta tự làm nghèo đi tổ chức của chính mình. Do đó, việc học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không dừng lại ở lý luận, mà là mệnh lệnh sinh tồn đối với toàn thể cán bộ, đảng viên và người lao động.

2. Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm, liêm, chính

Thấu hiểu tư tưởng Cần, Kiệm, Liêm, Chính của Hồ Chí Minh để thực hành trong công việc, cuộc sống hàng ngày là tất yếu.

Nhận thức sâu sắc “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà củng cố và phát triển” nên Hồ Chí Minh rất kiên trì giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Điều đáng chú ý là trong các phẩm chất đạo đức cần có của người cách mạng thì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là những phẩm chất được Người nói đến nhiều nhất. Điểm mới của nội dung văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh, xây dựng Đảng đạo đức, văn minh, thì yêu cầu chúng ta phải thấu hiểu tư tưởng Cần, Kiệm, Liêm, Chính của Hồ Chí Minh để thực hành trong công việc, cuộc sống hàng ngày là tất yếu.

Đạo đức là một phạm trù lịch sử nên chuẩn mực đạo đức vừa biến đổi cùng thời đại, vừa giữ lại những đặc tính vĩnh hằng. Khi xây dựng hình mẫu người cách mạng với những chuẩn mực đạo đức mới, Hồ Chí Minh vẫn dùng các phạm trù đạo đức Nho giáo như Cần, Kiệm, Liêm, Chính để biểu đạt nhưng năng lực cách tân đã làm cho tư tưởng Cần, Kiệm, Liêm, Chính (tứ đức) của Người có những nét đặc sắc sau đây. 

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm mới, hoặc mở rộng nội hàm của các khái niệm cũ.  

Khi nói về đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh nói đến CẦN nhiều nhất và trước hết bởi sự siêng năng, cần cù là nguồn gốc của văn minh và tiến bộ xã hội. Dù bao đời nay con người đã nói đến Cần, nhưng chữ CẦN của Hồ Chí Minh có nội dung mới so với quan điểm truyền thống. Nếu người xưa chỉ chú trọng cần nghiệp, cần học (tức là cần trong lao động sản xuất và học tập) thì Hồ Chí Minh cho rằng chúng ta còn phải cần cù, kiên trì cả trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bởi dựng nước đi liền với giữ nước là quy luật sinh tồn của dân tộc Việt Nam. Phẩm chất kế tiếp trong tứ đức là Kiệm cũng được Hồ Chí Minh luận giải hết sức mới mẻ. Nếu trong văn hóa truyền thống, Kiệm là hà tiện, căn cơ để làm giàu (“Buôn thuyền bán bè không bằng ăn dè, hà tiện”) thì với Hồ Chí Minh, Kiệm không phải là bủn xỉn, mà là chi tiêu thật hợp lý theo phương châm điều gì chưa cần thì một xu cũng không chi, điều gì có lợi cho dân  thì bao nhiêu cũng không tiếc. Tiết kiệm của dân để làm lợi cho dân chứ không phải tiết kiệm của dân để cống nộp cho quan. Đây là sự khác biệt về chất trong quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của KIỆM. 

Đặc biệt hơn nữa, Hồ Chí Minh đã mở rộng nội dung của Kiệm. Đó không chỉ là tiết kiệm của cải, vật chất như trong quan niệm truyền thống mà còn là tiết kiệm thời gian bởi thời gian cũng chính là tiền bạc, thậm chí thời gian còn quý hơn tiền bạc. Vì vậy, mỗi người phải có trách nhiệm tiết kiệm thời gian của mình cũng như thời gian của người khác. Đó còn là tiết kiệm sức dân vì trong xã hội vốn quý nhất là vốn người. Điều này đòi hỏi phải sắp xếp nhân lực hợp lý, phải tránh xa tất cả những gì phô trương hình thức. Kiệm đối với Hồ Chí Minh còn là kiệm nhân tài, chất xám bằng cách phân công công việc đúng sở trường và vận động mọi nhân tài ra gánh việc nước. Kiệm đối với Hồ Chí Minh còn là kiệm lời. Người không chỉ yêu cầu người cán bộ “nói thì phải làm” mà còn đề ra phương châm “nói ít, bắt đầu bằng hành động”. Với các cơ quan đoàn thể thì Người khuyên không nên họp nhiều, phải hết sức tránh “tình trạng là hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm”. Tóm lại, chữ Kiệm của Hồ Chí Minh đã có nội dung rộng hết sức phong phú so với chữ Kiệm truyền thống.

Hồ Chí Minh cũng đưa ra quan điểm mới về đức LIÊM. Nếu trong ngũ thường của Nho giáo (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) không có đức Liêm thì với Hồ Chí Minh, Liêm – tức là liêm khiết, không tham lam, vơ vét của công và của dân – là một phẩm chất không thể thiếu của người cách mạng. Từ lúc Đảng chưa ra đời, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải “ít lòng ham muốn về vật chất”. Khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, cán bộ trở thành những người có quyền thì chữ Liêm càng phải đặt lên hàng đầu, bởi lúc này họ “đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Chẳng vậy mà ngay sau cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết”. 

Phẩm chất cuối cùng trong tứ đức của Hồ Chí Minh là CHÍNH. Trong ngũ thường của Nho giáo không có đức CHÍNH, nhưng Hồ Chí Minh lại luôn yêu cầu người cán bộ phải “chính tâm và thân dân”. Người có đức Chính là người thẳng thắn, đứng đắn, đúng mực không chỉ trong hành động, mà ngay cả trong suy nghĩ thầm kín của mình, luôn kiên quyết bảo vệ lẽ phải, luôn hành động theo phương châm “việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh”. Với Hồ Chí Minh, “chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân… Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý” nên người có đức Chính phải là người thực sự “vì dân chứ không vì mình”. Để giúp cán bộ rèn luyện đức cao quý nhất này, Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa những biểu hiện của đức Chính trong 3 mối quan hệ là với mình, với người và với việc. 

Thứ hai,  Hồ Chí Minh có cái nhìn hết sức toàn diện về tầm quan trọng của “tứ đức”. 

Phân tích tầm quan trọng của 2 đức Cần và Kiệm, Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế mà còn cả trong việc làm gia tăng sức mạnh chính trị, quân sự, ngoại giao và văn hóa của đất nước.  

Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận vai trò của đức Liêm trong nhiều mối quan hệ. Với từng cá nhân, LIÊM không chỉ mang lại sự “quang minh chính đại” vì không có gì khuất tất, mà cả sự sáng suốt vì không bị dục vọng làm mờ mắt. Đức Liêm của người cán bộ sẽ mang lại cho nhân dân lòng tin vào chính phủ, vào chế độ. Nếu cán bộ không có được tứ đức, trong đó có đức LIÊM “mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”. 

Hồ Chí Minh còn đề cao vai trò của CHÍNH thông qua việc coi CHÍNH là cơ sở để phân định mọi việc trên thế giới thành 2 loại việc: Việc CHÍNH và việc TÀ và đi liền với đó là 2 loại người: Người Thiện và người Ác. Như vậy, CHÍNH là cái chi phối mọi hành vi và tạo ra nhân cách đạo đức của con người.  

Tóm lại, không dừng ở việc tu dưỡng đạo đức cá nhân, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận vai trò của tứ đức trong phạm vi rộng hơn là dân tộc và nhân loại. Câu nói của Người “một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ” đã thể hiện tầm nhìn rộng mở, lối tư duy đa tuyến của một chính trị gia kiệt xuất. 

Thứ ba, Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng về đối tượng thực hành đạo đức. 

Người khẳng định: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”. Văn hóa phương Đông cho rằng, cách giáo dục tốt nhất là làm gương, nên Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả mọi người trong nước đều phải rèn luyện tứ đức nhưng cán bộ phải đi đầu để làm gương. Người còn nói rõ: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”. Ngoài việc phải làm mực thước nhân dân bắt chước, Hồ Chí Minh còn yêu cầu cán bộ phải có trách nhiệm giáo dục tứ đức cho nhân dân. Nếu không làm được điều đó thì dù cá nhân anh ta có chăm chỉ bao nhiêu, tiết kiệm bao nhiêu, liêm chính bao nhiêu vẫn chỉ là người “cần, kiệm, liêm, chính một nửa”. Sự đòi hỏi rất cao của Người đối với cán bộ, đảng viên chính là biểu hiện của lòng yêu thương bởi có yêu thương mới nỗ lực đưa con người vào đúng vị trí của mình, nâng con người lên ngang tầm lịch sử.  

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã đưa ra hệ thống giải pháp phong phú, hữu hiệu để rèn luyện tứ đức. 

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng thực tiễn nên Người không dừng ở việc phân định cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì phải xây, cái gì phải chống mà còn đề ra các biện pháp hữu hiệu để thực hiện tứ đức. 

CẦN là phẩm chất cơ bản nhất, phổ biến nhất của loài người nên bao đời nay con người đã cần cù lao động nhưng Hồ Chí Minh yêu cầu cần cù phải đi liền với sáng tạo, với kế hoạch khoa học để đạt năng suất cao. Nó khác xa với kiểu “cần cù bù thông minh”, “ăn cơm chúa, múa tối ngày”, không quan tâm đến hiệu quả công việc của những người làm thuê trong xã hội cũ. Cần của Hồ Chí Minh còn đi liền với sự bền bỉ, dẻo dai bởi “một ngày cần mà mười ngày không cần thì cũng vô ích”. Vì thế, để cần một cách thực sự, con người phải hết sức tránh căn bệnh “lửa rơm”. Cần đối với Hồ Chí Minh còn là biết nuôi dưỡng “sức bền”, không bao giờ làm quá trớn (Người gọi là “làm xổi”), quá ngưỡng chịu đựng đến mức ốm đau, phải bỏ việc. Nhà quản lý hiểu về Cần thì phải biết duy trì sức dân, nuôi dưỡng sức dân chứ không khai thác, bóp nghẹt sức dân đến mức cạn kiệt. Cuối cùng, để rèn luyện đức Cần thì mỗi người phải kiên quyết chống lại sự lười biếng của chính mình. Những chỉ dẫn về phương pháp thực hiện chữ Cần của Hồ Chí Minh đã giúp con người có thể Cần một cách trí tuệ và bền vững. 

Để thực hành đức Kiệm, Hồ Chí Minh yêu cầu toàn Đảng, toàn dân phải kiên quyết chống lãng phí. Người rất sâu sắc khi cho rằng “lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng tai hại cho nhân dân, cho chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô”. Nó tai hại hơn bởi chỉ những cán bộ có chức có quyền mới có thể tham ô nhưng bất kể con người nào, ở vị trí nào cũng dễ dàng lãng phí tiền bạc, thời gian, sức lực của mình, của cơ quan và của xã hội. “Tích tiểu thành đại”, sự thất thoát do lãng phí mang lại còn lớn hơn tham ô. Hồ Chí Minh cũng kịch liệt phê phán những người giữ tư tưởng trung bình chủ nghĩa theo kiểu “ai tham ô, lãng phí mặc ai, mình không tham ô, lãng phí thì thôi”. Thái độ thờ ơ, vô cảm của con người đã gián tiếp làm cho căn bệnh lãng phí trở thành “đại dịch”. 

Để cán bộ có được đức Liêm thì Hồ Chí Minh cho rằng bên cạnh việc kiên trì rèn luyện của từng cá nhân thì tổ chức phải làm tốt công tác tuyên truyền và kiểm soát, phải nâng cao dân trí vì “quan tham bởi vì dân dại” và pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kể kẻ đó là ai. 

Cuộc sống đã chứng minh: Chỉ khi thực sự quyết tâm, con người mới tìm ra giải pháp, còn nếu không, họ chỉ tìm ra lý do. Hệ thống giải pháp toàn diện và thiết thực nêu trên không chỉ thể hiện năng lực giải quyết thực tiễn mà cả nhiệt huyết “rèn người” của Hồ Chí Minh.

Thứ năm, Hồ Chí Minh hết sức sâu sắc khi phân tích mối quan hệ giữa 4 phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính. 

Coi tứ đức là những phẩm chất căn cốt của người cách mạng nhưng Hồ Chí Minh đã xếp đặt các phẩm chất đó theo một trật tự rất hợp lý. Người đã đặt chữ Cần lên trên hết. Điều này hoàn toàn đúng bởi có cần mới có cái để kiệm và có cần mới biết kiệm; có kiệm mới có thể liêm; có liêm mới có thể chính. Chẳng vậy mà  Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ: “Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được”. Ngược lại, nếu không cần sẽ không biết trân quý thành quả lao động, sẽ hoang phí, xa hoa. Mà đã xa hoa, ăn chơi hưởng lạc thì phải làm chuyện bất liêm, bất chính. Tức là trong quan điểm của Hồ Chí Minh, CẦN thẩm thấu, chi phối và là tiền đề của các phẩm chất khác. CẦN chính là gốc của đạo đức, ai muốn rèn luyện đạo đức thì trước hết phải rèn luyện cho được đức CẦN. 

Điều sâu sắc còn nằm ở chỗ: Mặc dù đã khẳng định chân lý “CẦN, KIỆM, LIÊM là gốc rễ của CHÍNH” nhưng Người lại nói tiếp: “Một cây cần có gốc rễ, lại có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”. Tức là, CHÍNH dù là hệ quả của cần, kiệm, liêm nhưng vẫn có tính độc lập tương đối của nó vì nhiều khi có đủ cần, kiệm, liêm mà vẫn không thể CHÍNH. Ví dụ, người nào đó luôn siêng năng lao động, luôn thực hành tiết kiệm, luôn liêm khiết, không tơ hào những thứ không thuộc về mình nhưng trước những điều BẤT LIÊM lại ngại đối đầu, cho rằng mình không xấu là được, ai xấu mặc ai thì người đó chưa được gọi là CHÍNH. Đức CHÍNH đòi hỏi con người phải có sự chính trực, dũng cảm để bảo vệ lẽ phải, đấu tranh với cái xấu. Do đó, CHÍNH là đức khó thực hiện nhất trong tứ đức, là sự biểu hiện đầy đủ nhất của nhân cách và con người nhất định “phải CHÍNH mới là người hoàn toàn”. 

Đến đây xuất hiện câu hỏi: Liệu có là phi thực tế hay không khi đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải trở thành “người hoàn toàn” trong khi cán bộ thì cũng là con người mà “người đời không phải thánh, thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm”? Hồ Chí Minh cho rằng: “Mỗi con người đều có thiện, có ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Sự trải nghiệm cuộc đời giúp Hồ Chí Minh biết rõ đặc tính của con người nên Người luôn “vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa yêu thương dìu dắt”, vừa rộng lượng bao dung để con người trở nên tốt đẹp hết mức có thể. Suy cho cùng, đó chính là quyết tâm “cải tạo thế giới” của một người cộng sản chân chính.  

Tóm lại, CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH là những phẩm chất cốt lõi của con người nên bao đời nay người ta đã nói nhiều về nó nhưng Hồ Chí Minh đã bàn về Cần, Kiệm, Liêm, Chính một cách hệ thống nhất, sâu sắc nhất, mới mẻ nhất, nhân văn nhất. Đáng nói hơn nữa là Hồ Chí Minh không chỉ nói nhiều, nói hay về tứ đức mà còn là biểu hiện ngời sáng của những phẩm chất cao quý đó. Tư tưởng và sự thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính của Hồ Chí Minh đã thể hiện năng lực tư duy sáng tạo và lối sống cao thượng của một danh nhân văn hóa kiệt xuất.

3. Hiện thực hóa “tiết kiệm, liêm, chính” vào sứ mệnh của VASCO

Hiện thực hóa “tiết kiệm, liêm, chính” vào sứ mệnh của VASCO.

Đặc thù hoạt động của VASCO là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực hàng không: yêu cầu tuyệt đối về an toàn, chi phí vận hành khai thác lớn (nhiên liệu, bảo dưỡng, khí tài), áp lực cạnh tranh dịch vụ cao.

Tại VASCO, chúng ta không nói về đạo đức bằng những khẩu hiệu chung chung, mà phải thấy rõ, cái gốc đạo đức được đo lường bằng năng suất lao động, bằng sự an toàn của mỗi chuyến bay và bằng hiệu quả trên báo cáo tài chính. Nó phải được thẩm thấu vào chính chức năng, nhiệm vụ cốt lõi mà Tổng công ty đã giao phó. Cụ thể: 

+ Thực hành “Tiết kiệm”: tiết kiệm trong hoạt động hàng không không chỉ là giảm chi phí, mà còn là tối ưu hóa thời gian, nguồn lực để đạt hiệu quả cao nhất mà vẫn bảo đảm tuyệt đối an toàn.

  • Tối ưu hóa nguồn lực và vật tư: Khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đất đai và tài nguyên được giao (Nhiệm vụ 6). Quản lý chặt chẽ phụ tùng, vật tư tàu bay, trang thiết bị kỹ thuật trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa nhằm tránh lãng phí, thất thoát (Nhiệm vụ 2, 3).
  • Đầu tư hiệu quả, có trọng điểm: Xây dựng kế hoạch đầu tư (đội tàu bay, xây dựng cơ bản, liên doanh liên kết) sát với thực tế, có tính toán khoa học, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.
  • Tiết kiệm thời gian và sức lao động: Xây dựng cơ cấu tổ chức tinh gọn, định mức lao động và quy trình kỹ thuật khoa học để nâng cao năng suất làm việc của đội ngũ phi công, tiếp viên và kỹ sư mặt đất.

+  Rèn luyện đức “Liêm”: Liêm là sự trong sạch, minh bạch, không tư lợi cá nhân. Đối với một doanh nghiệp hoạt động thương mại và kỹ thuật hàng không, yếu tố này cực kỳ quan trọng trong các khâu tài chính và hợp tác.

  • Minh bạch trong tài chính và kế toán: Thực hiện nghiêm túc, trung thực công tác kế toán, báo cáo tài chính, kiểm toán và thống kê (Nhiệm vụ 7). Bảo đảm mọi số liệu thu chi từ khai thác bay, cho thuê tàu bay hay dịch vụ mặt đất đều rõ ràng, chính xác.
  • Công tâm trong hợp tác và mua sắm: Giữ vững sự khách quan, trong sạch khi tham gia đàm phán, ký kết các hợp đồng dịch vụ kỹ thuật, thương mại với các hãng hàng không khác (Nhiệm vụ 4). Tuyệt đối không vì “hoa hồng” bất chính hoặc lợi dụng vị trí công tác để trục lợi từ các đối tác cung ứng.
  • Đánh giá đối tác trung thực: Tổ chức đánh giá chất lượng dịch vụ của các nhà cung ứng dựa trên tiêu chuẩn rõ ràng, không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân (Nhiệm vụ 5).

+ Thực hành đức “Chính”: Chính là làm việc đúng chức trách, thẳng thắn, công bằng và đặt lợi ích của tập thể, của khách hàng lên trên hết.

  • Tuân thủ tuyệt đối kỷ luật an toàn: Đặt an toàn – chất lượng – an ninh lên hàng đầu. Chấp hành nghiêm ngặt các luật lệ, chứng chỉ AOC, khuyến cáo của ICAO, IATA và các quy trình bảo dưỡng tàu bay (Nhiệm vụ 3). Bất kỳ sự thỏa hiệp nào về tiêu chuẩn an toàn đều vi phạm chữ “Chính”.
  • Tận tụy và trách nhiệm cao độ: Cán bộ đảm nhận các vị trí Post Holder, người lái tàu bay, tiếp viên và nhân sự điều hành khai thác phải làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng công việc theo đúng phân cấp.
  • Cầu thị và phục vụ khách hàng: Thẳng thắn, khách quan thu nhận ý kiến phản hồi của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Xử lý thông tin một cách công bằng, kịp thời để không ngừng cải tiến trải nghiệm bay và dịch vụ mặt đất (Nhiệm vụ 5).

Hành trình vươn cao của cánh chim VASCO trên bầu trời Tổ quốc không chỉ được nâng đỡ bởi sức mạnh cơ học, mà còn được chắp cánh bởi một hệ giá trị đạo đức sâu sắc: “Tiết kiệm, Liêm, Chính”. Trong bối cảnh đặc thù và ngặt nghèo của ngành hàng không, nơi mỗi sai số đều có thể phải trả giá bằng sinh mệnh, chữ “Chính” trở thành ranh giới sinh tử. Lơi lỏng đức “Chính” – tức là thỏa hiệp với sự cẩu thả, gian dối và bỏ qua tính kỷ luật – đồng nghĩa với việc mang sinh mạng của hành khách ra đánh cược. Do đó, sự chính trực của người thợ máy, hay tính chuẩn xác của phi công không chỉ là đạo đức cá nhân, mà là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa giá trị cốt lõi cao nhất: “An toàn là số 1”. Đồng thời, một hãng hàng không không thể vươn xa nếu nội lực bị bào mòn.

Nếu vi phạm đức “Liêm” trong các giao dịch, chúng ta tự mở cửa rước đại họa tham nhũng; nếu không nghiêm khắc thực hiện đức “Kiệm”, doanh nghiệp đang tự cắt đứt mạch máu tài chính của chính mình. Do đó, thực hành nghiêm ngặt “Tiết kiệm” và “Liêm” sẽ triệt tiêu sự lãng phí và tư lợi, kiến tạo nên một hệ thống minh bạch, tối ưu hóa. Đây chính là biểu hiện rực rỡ nhất của tính “chuyên nghiệp”, tạo đà cho sự phát triển vững bền. Khi mỗi cán bộ, nhân viên thấm nhuần “tứ đức”, chuyển hóa vào từng nhiệm vụ nhỏ nhất, triết lý “khách hàng là trung tâm” và sự “thân thiện” không còn là những khẩu hiệu treo tường, mà biến thành chuỗi hành động tận tâm, mang đến cho hành khách những chuyến bay an tâm tuyệt đối. Suy cho cùng, thực hành đạo đức không phải là bài giảng lý thuyết xa vời, mà là mệnh lệnh sinh tồn. Giữ vững kỷ cương, trong sáng trong tâm thức, chính là cách thiết thực nhất để mỗi cá nhân bảo vệ nguồn sống của gia đình mình, đồng thời hun đúc nên “hồn cốt” văn hóa của VASCO, giúp thương hiệu tự tin sải cánh vươn xa.

Nguyễn Thị Lệ Ngân - VASCO/05
Share bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chào mừng trở lại!

Đăng nhập vào tài khoản của bạn dưới đây

Lấy lại mật khẩu của bạn

Vui lòng nhập tên người dùng hoặc địa chỉ email để đặt lại mật khẩu của bạn.

GỬI Ý KIẾN THÀNH CÔNG!

Chào Anh/Chị,
VNA Spirit đã ghi nhận những chia sẻ tâm huyết của Anh/Chị. Sự đóng góp này chính là động lực để mỗi chuyến bay của chúng ta thêm An toàn – Đúng giờ – Hiệu quả.

Góc thông điệp

“Góc thông điệp” là nơi VNA Spirit trân quý tiếp nhận các ý kiến, đề xuất từ CBNV – những con người đang ngày đêm đóng góp thầm lặng, bền bỉ cho mỗi chuyến bay của Vietnam Airlines.

Mỗi thông điệp gửi về sẽ được tổng hợp, lựa chọn và hiển thị tại đây như những hành động nhỏ nhưng thiết thực, cùng nhau góp phần nâng cao an toàn, đúng giờ và hiệu quả trong khai thác.