Lịch sử tình cờ xếp đặt cho Bảo Đại, vị vua cuối cùng của thời quân chủ Việt Nam, có một phần đời gắn bó với miền sơn cước Tây Nguyên. Sau khi thoái vị năm 1945, vào cuối thập niên 1940, đầu thập niên 1950, cựu hoàng đã chọn Đà Lạt và một số nơi ở phía nam Tây Nguyên làm nơi làm việc, chốn ở và nghỉ dưỡng.
Dấu tích những “hành cung” vương giả giữa cao nguyên hiện vẫn tồn tại như những tấm gương phản chiếu lối sống của một thời vàng son đã qua.

Đà Lạt – dinh thự trên đỉnh vàng son
Từng là nơi đặt cơ quan làm việc của Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux đầu thập niên 1940, Đà Lạt về sau trở thành thủ phủ của “Hoàng triều Cương thổ”, được thành lập năm 1950 dưới thời Bảo Đại giữ cương vị Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam. Dấu ấn của ông và hoàng hậu Nam Phương đậm nét nhất qua Dinh 1 và Dinh 3.
Dinh I vốn là công trình của một triệu phú Pháp, được xây dựng vào khoảng năm 1940 trong rừng thông rộng 40 – 50ha, ở độ cao 1.550m phía đông Đà Lạt, tên ban đầu là Domain Bourgerie. Về sau, Bảo Đại mua lại làm Văn Võ phòng Quốc trưởng.
Dinh thự mang phong cách kiến trúc địa phương Pháp, đối xứng theo trục hướng Tây Nam, với một đầu hồi phát triển thành cửa sổ lồi (bay window) trang trọng nhìn ra 3 phía. Phần đế ốp đá đắp gân vữa, tầng lầu sơn vàng và hệ con sơn cong kiểu cách đỡ phần mái đua ra, tạo nên mặt tiền trang nhã. Các đường dạo lát đá và hàng tràm cổ thụ dẫn lối trục chính từ chân đồi lên mặt trước dinh tôn lên vẻ nghiêm cẩn, đường bệ của công trình.
Tương phản với nét cổ điển của Dinh 1, Dinh 3 (còn được gọi là Biệt điện Bảo Đại, tên ban đầu là Palais Impérial, xây năm 1934 – 1938) lại mang phong cách kiến trúc hiện đại (modernism). Công trình được Bảo Đại dùng làm nơi ở và tiếp khách, nổi bật với cấu trúc mặt tiền trải dài, tuyến phân vị ngang sơn trắng trên 2 tầng nhà tô đá rửa vàng cát, cùng các ô cửa sổ vuông nhấn mạnh sự bình ổn, vững chãi.

Công trình hội tụ trào lưu kiến trúc streamline phương Tây (một nhánh của phong cách Art Deco) thập niên 1930 với các khối cong ở sảnh đón, đầu hồi, sân trời và ống khói, tựa như một con tàu sang trọng giữa biển khơi.
Cấu trúc hiện đại của Dinh 3 nhấn mạnh khối hình học, tương phản với hoa sắt trang trí và tay vịn cầu thang gỗ tạo ra vần điệu đầy chất thơ. Những bức tường tô vữa sần màu vàng tạo tương phản với sàn gỗ ghép ô vuông trong các phòng cũng như với hành lang lát gạch bông màu gan gà điểm xuyết các viên màu trắng – xanh tạo ra một cuộc chơi tiết tấu của nhạc tính.
Các khoảng không gian vì thế không cần đến sự diêm dúa của trang trí hay cổ vật mà tự thân lên tiếng nói của mảng và khối, với ánh sáng dẫn dắt hướng nhìn của người đi trong nội thất. Một số phòng hiện trưng bày hiện vật về Nam Phương hoàng hậu, các hoàng tử, công chúa và thứ phi, gợi hoài niệm xa vắng về những chủ nhân quá khứ.
Đắk Lắk – màu phong lưu miền rừng núi
Gắn với các chuyến đi săn và du ngoạn của Bảo Đại còn có 2 dinh thự tại Đắk Lắk. Tòa thứ nhất ở Buôn Ma Thuột vốn là Tòa công sứ Pháp, được xây năm 1926. Dinh thự kết hợp kiến trúc địa phương Pháp và nhà sàn Tây Nguyên, từng là nơi làm việc và nghỉ ngơi của Bảo Đại.
Mang tên Biệt điện Bảo Đại, công trình nằm trong khuôn viên Bảo tàng Đắk Lắk, có một tầng lầu, tầng dưới để thoáng như nhà sàn. Công trình chạy dài bề ngang, 2 đầu nhô ra thành đầu hồi, đế đắp vữa kẻ mạch giả đá. Sự đơn giản của lan can bê tông mảnh và trán tường chia ô vuông giả hệ xà gồ gỗ đan xen tính duy lý và nét hương xa. Nằm giữa khu vườn nhiệt đới với cây long não khổng lồ, vòm xanh hòa cùng tường vàng và mái ngói nâu sẫm tạo ra ấn tượng thị giác phong lưu.
Điểm nổi bật là nội thất các dinh thự của Bảo Đại đều gây ấn tượng với đồ gỗ hiện đại mà một thời người Việt từng gọi là “tủ, giường mô-đéc” hay “ghế Bảo Đại”. Điều này đặc biệt đúng với Biệt điện Buôn Ma Thuột, chất liệu gỗ từ sàn nhà đến hệ thống bàn ghế, tủ tường chính là nhân vật trung tâm của không gian.
Cách Buôn Ma Thuột 50km, biệt thự nghỉ ngơi trong các chuyến đi săn của Bảo Đại bên hồ Lắk được xây năm 1951. Công trình này mang phong cách khác biệt với hệ mái dốc về một phía, phần cao nhất có 3 tầng nhìn ra hồ.

Sự kết hợp giữa khung cột gỗ, bê tông và ô kính lớn vừa gợi nhớ nhà sàn truyền thống, vừa đột phá hiện đại. Màu hồng nâu của tường và mái khiến công trình có nét duyên như bông hoa giữa vùng rừng cây bên mặt nước. Mảng tường đá của lò sưởi cũ cùng những góc nhỏ nguyên bản vẫn lưu dấu khuôn hình từ nhiều thập niên trước.
Ngoài dinh thự của Bảo Đại, chốn cao nguyên còn có các công trình liên quan đến gia đình Nam Phương hoàng hậu như dinh thự nằm trong khuôn viên Bảo tàng Lâm Đồng và lăng ông bà Nguyễn Hữu Hào, thân sinh của hoàng hậu, đều ở Đà Lạt. Tọa lạc trên đỉnh những đồi thông, chúng kết nối với các dinh thự Bảo Đại làm nên một chuỗi tham quan đáng giá.
Những công trình trải dài từ thập niên 1930 đến 1950 đã tạo ra dư ảnh vàng son của vị vua cuối cùng của Việt Nam. Giữa rừng thông hay bên hồ nước, chúng vẫn man mác câu chuyện về vẻ đẹp phù du của cõi sống.
Xem thêm các bài viết về văn hóa, du lịch, phong cách sống địa phương tại đây: https://heritagevietnamairlines.com/




















