[Búa liềm vàng 2026] Kiểm tra, giám sát trong kỷ nguyên số, từ cảnh báo đến hành động

Trong kỷ nguyên số, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đứng trước bước chuyển căn bản: từ phát hiện sai phạm đến chủ động phòng ngừa, từ kiểm tra theo vụ việc đến giám sát thường xuyên. Đừng để những cảnh báo chỉ dừng lại trên màn hình, mà phải biến chúng thành hành động.

Quang cảnh Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
Quang cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. (Ảnh minh họa: Hồ Long/Báo Đại biểu Nhân dân)

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát hiện và xử lý nghiêm minh sai phạm là điều cần thiết. Nhưng có một câu hỏi quan trọng hơn: Làm thế nào để những sai phạm ấy không xảy ra ngay từ đầu?

Khi chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức quản trị quốc gia, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cũng đứng trước một bước chuyển có ý nghĩa căn bản: Không dừng ở việc đi tìm câu trả lời cho những việc đã xảy ra, mà phải nhận diện được nguy cơ từ khi chúng mới hình thành.

Một công trình chậm tiến độ có thể được kiểm tra. Một khoản chi sai quy định có thể bị phát hiện. Một cán bộ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật. Nhưng không phải mọi hậu quả đều có thể khắc phục hoàn toàn.

Thời gian đã mất không thể lấy lại. Nguồn lực bị lãng phí không phải lúc nào cũng có thể thu hồi đầy đủ. Và quan trọng hơn, một khi niềm tin bị tổn thương, việc khôi phục sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với việc giữ gìn từ đầu.

Đó là lý do công tác kiểm tra, giám sát không thể chỉ được đánh giá bằng số cuộc kiểm tra đã thực hiện, số vụ việc được phát hiện hay số cán bộ bị xử lý.

Những con số ấy cần thiết, nhưng chưa đủ.

Một tổ chức đảng vững mạnh là tổ chức có khả năng xử lý sai phạm nghiêm minh, đồng thời phải có năng lực nhận diện nguy cơ, chủ động phòng ngừa và tự điều chỉnh trước khi khuyết điểm trở thành vi phạm.

Một cán bộ có trách nhiệm không phải chỉ biết chấp hành khi có đoàn kiểm tra, mà phải giữ được kỷ luật ngay cả khi không có ai trực tiếp giám sát.

Một người đứng đầu hoàn thành nhiệm vụ không thể chỉ dừng ở việc xử lý hậu quả khi sự việc đã trở nên nghiêm trọng, mà phải chủ động xây dựng cơ chế để những rủi ro được phát hiện và ngăn chặn từ sớm.

Nhìn từ góc độ ấy, kiểm tra, giám sát không đơn thuần là công cụ xử lý vi phạm. Đó còn là phương thức bảo vệ tổ chức, bảo vệ cán bộ, bảo vệ nguồn lực phát triển và bảo vệ niềm tin của Nhân dân.

Điểm cầu Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Điểm cầu Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quốc hội tại Hội nghị toàn quốc phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. (Ảnh minh họa: Báo Đại biểu Nhân dân)

Ngày 7/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

Một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết là đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát, tăng cường tính chủ động, chuyển trọng tâm sang phòng ngừa và cảnh báo vi phạm, phát hiện những nguy cơ có thể dẫn đến sai phạm.

Đó không đơn thuần là sự thay đổi về phương pháp nghiệp vụ. Sâu xa hơn, đây là bước chuyển về tư duy quản trị và phương thức lãnh đạo.

Bởi trong một xã hội đang chuyển động nhanh, nếu công tác giám sát luôn đi sau thực tiễn, thì nhiều khi chúng ta chỉ có thể giải quyết hậu quả của những điều đáng lẽ đã có thể ngăn chặn.

Khi dữ liệu trở thành công cụ nhận diện nguy cơ

Trong nhiều năm, một phần hoạt động kiểm tra, giám sát vẫn phụ thuộc lớn vào báo cáo định kỳ, hồ sơ giấy, các đợt kiểm tra trực tiếp hoặc thông tin phát sinh khi có phản ánh, kiến nghị.

Phương thức ấy có những ưu điểm nhất định, nhưng cũng tồn tại giới hạn.

Một báo cáo có thể phản ánh kết quả tại thời điểm lập báo cáo, song không nhất thiết cho thấy toàn bộ diễn biến trong quá trình thực hiện. Một cuộc kiểm tra có thể làm rõ vi phạm đã xảy ra, nhưng không phải lúc nào cũng đủ sớm để ngăn chặn hậu quả.

Trong khi đó, nhiều dấu hiệu bất thường thực chất đã xuất hiện trước khi vụ việc trở nên nghiêm trọng.

Đó có thể là một dự án liên tục điều chỉnh tiến độ, một khoản kinh phí giải ngân không tương xứng với khối lượng công việc, những phản ánh lặp đi lặp lại của người dân về cùng một thủ tục hành chính, hoặc những kiến nghị sau kiểm tra kéo dài mà chưa được giải quyết dứt điểm.

Nếu các thông tin ấy tồn tại riêng lẻ trong nhiều báo cáo, nhiều đơn vị, chúng có thể dễ dàng bị bỏ qua.

Nhưng khi được kết nối, đối chiếu và phân tích có hệ thống, chúng có thể trở thành những tín hiệu cảnh báo có giá trị.

Đó chính là một trong những cơ hội lớn mà chuyển đổi số mang lại cho công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Theo thông tin được Báo Nhân Dân công bố ngày 15/6/2026, ngành Kiểm tra Đảng đang triển khai xây dựng phương thức kiểm tra, giám sát dựa trên dữ liệu.

Trong đó, việc số hóa 18 quy trình nghiệp vụ lõi hướng đến phục vụ giám sát thường xuyên, phát hiện và phòng ngừa vi phạm, thực hiện kiểm tra, kỷ luật đảng và theo dõi việc chấp hành kết luận sau kiểm tra.

Trung tâm điều hành, giám sát, kiểm tra trên môi trường số của Ủy ban Kiểm tra Trung ương cũng được xây dựng để hỗ trợ tổng hợp, phân tích thông tin và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.

Lễ ra mắt Trung tâm điều hành giám sát, kiểm tra trên môi trường số
Lễ ra mắt Trung tâm điều hành giám sát, kiểm tra trên môi trường số của ngành Kiểm tra Đảng. (Ảnh minh họa: Báo Nhân Dân)

Những bước đi ấy cho thấy chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng đang từng bước đi từ định hướng sang tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, giá trị thực sự của công nghệ không nằm ở số lượng phần mềm được triển khai hay số trang tài liệu đã được số hóa.

Giá trị ấy nằm ở câu hỏi: Từ những dữ liệu thu thập được, chúng ta có phát hiện sớm hơn một nguy cơ, ngăn chặn được một sai phạm và giải quyết được một vấn đề tồn đọng hay không?

Một hệ thống dù hiện đại đến đâu cũng chưa thể coi là thành công nếu chỉ tạo ra những bảng thống kê đẹp mắt, trong khi những bất thường đã được ghi nhận vẫn không có người chịu trách nhiệm xử lý.

Dữ liệu chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành cơ sở cho hành động.

Một trong những yêu cầu lớn của công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay là nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng hoặc chỉ tập trung hoàn thành các chỉ tiêu hình thức.

Muốn làm được điều đó, giám sát không thể chỉ dừng ở kết quả cuối cùng, mà cần quan tâm đến cả quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Chẳng hạn, một chủ trương được ban hành đúng thời hạn chưa đồng nghĩa với việc chủ trương ấy đã được thực hiện hiệu quả.

Một kế hoạch hoàn thành đầy đủ về mặt thủ tục chưa chắc đã tạo ra chuyển biến trong thực tế.

Một kiến nghị kiểm tra được ghi nhận là đã xử lý cần phải được đối chiếu với những thay đổi thực chất sau xử lý.

Vì vậy, cùng với việc giám sát tiến độ, cần đánh giá chất lượng và hiệu quả công việc, xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân trong từng khâu thực hiện.

Vấn đề cốt lõi không phải là tạo thêm áp lực báo cáo, mà là làm rõ trách nhiệm.

Khi một nhiệm vụ chậm tiến độ, cần xác định nguyên nhân nằm ở quy định chưa phù hợp, nguồn lực thiếu hụt, năng lực thực thi hạn chế hay sự thiếu trách nhiệm của cán bộ phụ trách.

Khi một vấn đề tồn đọng kéo dài, cần trả lời được ai có thẩm quyền giải quyết, ai có trách nhiệm phối hợp và vì sao vướng mắc chưa được tháo gỡ.

Khi một cảnh báo xuất hiện nhiều lần, phải có cơ chế bảo đảm cảnh báo đó được xem xét, xác minh và xử lý theo đúng thẩm quyền.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Thực tiễn tại Hà Nội cho thấy, sau quá trình sắp xếp, số đơn vị hành chính cấp xã giảm từ 526 xuống còn 126; hoạt động của 30 đơn vị hành chính cấp huyện kết thúc từ ngày 1/7/2025.

Sự thay đổi lớn về tổ chức đặt ra yêu cầu tương ứng về phân cấp, phân quyền, năng lực cán bộ và cơ chế kiểm soát quyền lực.

Khi phạm vi quản lý và khối lượng công việc thay đổi, phương thức giám sát cũng phải được điều chỉnh cho phù hợp.

Một hệ thống giám sát hiệu quả phải giúp cấp ủy nắm được những vấn đề đang phát sinh tại cơ sở, chứ không dừng ở việc tổng hợp những kết quả đã được báo cáo lên cấp trên.

Đặc biệt, cần bảo đảm thông tin từ người dân, doanh nghiệp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ có thể trở thành nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ đánh giá chất lượng hoạt động của bộ máy.

Bởi hiệu quả của một nền hành chính được thể hiện trong báo cáo của cơ quan quản lý, đồng thời được phản ánh qua trải nghiệm thực tế của người dân khi sử dụng dịch vụ công.

Không để công nghệ trở thành một hình thức mới

Chuyển đổi số mở ra những cơ hội lớn, nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ.

Nguy cơ đầu tiên là số hóa hình thức.

Nếu một quy trình thủ công vốn đã phức tạp chỉ được chuyển nguyên trạng lên môi trường điện tử, thì công nghệ có thể khiến thủ tục trông hiện đại hơn mà không làm cho công việc hiệu quả hơn.

Nếu một thông tin phải nhập đi nhập lại ở nhiều hệ thống, nếu dữ liệu thiếu chính xác hoặc không được cập nhật kịp thời, thì việc đầu tư công nghệ chưa chắc giúp giảm gánh nặng cho cán bộ và người dân.

Đổi mới thực chất phải bắt đầu từ việc rà soát công việc, loại bỏ những khâu trung gian không cần thiết, chuẩn hóa quy trình, làm rõ trách nhiệm và thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu phù hợp.

Một yêu cầu khác là không được đồng nhất dấu hiệu bất thường với kết luận vi phạm.

Dữ liệu có thể chỉ ra một khoản chi cần được xem xét, một tiến độ cần được giải trình hoặc một quyết định có dấu hiệu thiếu nhất quán. Nhưng những thông tin ấy cần tiếp tục được kiểm chứng khách quan, toàn diện, đặt trong hoàn cảnh cụ thể và xử lý theo đúng nguyên tắc, quy trình, thẩm quyền.

Không thể để một chỉ số bất thường tự động trở thành căn cứ quy kết trách nhiệm.

Càng ứng dụng công nghệ sâu rộng, càng cần đề cao bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn và sự công tâm của cán bộ làm công tác kiểm tra.

Máy móc có thể hỗ trợ phát hiện những mối liên hệ mà con người khó nhận thấy. Nhưng trách nhiệm đánh giá chứng cứ, bảo đảm công bằng, phân biệt sai sót khách quan với hành vi cố ý vi phạm vẫn thuộc về con người và các tổ chức có thẩm quyền.

Song song với đó, việc quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu phải đi đôi với bảo mật thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và phòng ngừa nguy cơ lạm dụng.

Một hệ thống giám sát muốn tạo dựng niềm tin trước hết phải vận hành trên những nguyên tắc minh bạch, đúng thẩm quyền và có trách nhiệm giải trình.

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát vì thế vừa đòi hỏi đầu tư hạ tầng công nghệ, vừa cần đổi mới tư duy của người sử dụng công nghệ.

Không phải cứ có dữ liệu là có giám sát hiệu quả. Không phải cứ có cảnh báo là đã kiểm soát được rủi ro.

Hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào việc con người có dám nhìn thẳng vào vấn đề, dám chịu trách nhiệm và dám hành động để khắc phục hay không.

Một quan niệm cần được khẳng định rõ: Tăng cường kiểm tra, giám sát không đồng nghĩa với làm cho cán bộ sợ trách nhiệm, ngại đổi mới hay không dám quyết định.

Ngược lại, cơ chế kiểm tra, giám sát khoa học, minh bạch phải góp phần bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Muốn vậy, công tác kiểm tra cần phân biệt rõ giữa hành vi trục lợi, cố ý làm trái với những khó khăn, sai sót phát sinh trong quá trình chủ động tìm tòi giải pháp mới.

Cần đánh giá trách nhiệm dựa trên mục đích, động cơ, hoàn cảnh, quy trình thực hiện và hậu quả thực tế, thay vì chỉ nhìn vào một kết quả riêng lẻ.

Một môi trường mà mọi quyết định đều có thể được xem xét khách quan, mọi kiến nghị đều có cơ chế xử lý và mọi cán bộ đều được đánh giá bằng tiêu chí rõ ràng sẽ góp phần tạo động lực hành động mạnh mẽ hơn.

Đó cũng chính là sự kết hợp giữa xây dựng kỷ luật, kỷ cương với khuyến khích đổi mới sáng tạo; giữa phòng ngừa tiêu cực với phát huy những nhân tố tích cực.

Ở chiều sâu hơn, kiểm tra, giám sát còn là phương thức phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách.

Nếu nhiều đơn vị cùng gặp một vướng mắc, đó có thể là vấn đề năng lực thực hiện của từng đơn vị, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy quy định hoặc quy trình cần được xem xét điều chỉnh.

Nếu một thủ tục thường xuyên phát sinh phản ánh, cần kiểm tra cả người trực tiếp xử lý lẫn tính hợp lý của thủ tục ấy.

Nếu một mô hình mới đem lại hiệu quả rõ rệt, công tác giám sát cũng cần ghi nhận, đánh giá và kiến nghị nhân rộng.

Như vậy, kiểm tra, giám sát vừa góp phần giữ nghiêm kỷ luật, vừa cung cấp thông tin quan trọng để hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao hiệu quả quản trị.

Phát hiện sai phạm để xử lý là cần thiết; phát hiện bất cập để sửa đổi và nhận diện nhân tố tích cực để nhân rộng cũng quan trọng không kém.

Đó là cách để công tác kiểm tra, giám sát đồng hành với phát triển, thay vì chỉ xuất hiện khi những vấn đề đã trở nên nghiêm trọng.

Thước đo cuối cùng là niềm tin của Nhân dân

Năm 2026 mở ra giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với những yêu cầu cao về đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, xây dựng đội ngũ cán bộ và kiểm soát quyền lực.

Trong tiến trình đó, chuyển đổi số tạo ra những công cụ mới để nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng.

Nhưng công nghệ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện.

Điều quyết định vẫn là ý chí chính trị, trách nhiệm của tổ chức đảng, bản lĩnh của đội ngũ cán bộ và khả năng biến những chủ trương đúng đắn thành kết quả thực tế.

Một phần mềm có thể ghi nhận hàng nghìn thông tin. Một hệ thống có thể hiển thị hàng trăm chỉ số. Một trung tâm điều hành có thể tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn.

Song giá trị của những công cụ ấy phải được trả lời bằng những chuyển biến cụ thể.

Đó là những nguy cơ được nhận diện trước khi trở thành vi phạm.

Là những kiến nghị được giải quyết thay vì kéo dài hết kỳ báo cáo này đến kỳ báo cáo khác.

Là những nguồn lực công được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả hơn.

Là những cán bộ tận tâm được ghi nhận, bảo vệ và tạo điều kiện cống hiến.

Là những hành vi tiêu cực bị ngăn chặn kịp thời, những bất cập được sửa chữa từ sớm và những phản ánh chính đáng của người dân được lắng nghe, giải quyết thấu đáo.

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không dừng ở những văn kiện, nghị quyết hay chương trình hành động, mà phải hiện diện trong từng quyết định đúng đắn, từng công việc được thực hiện có trách nhiệm và từng kết quả mà Nhân dân có thể cảm nhận.

Đổi mới kiểm tra, giám sát trong kỷ nguyên số chính là cơ hội để tăng cường năng lực tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng; để kỷ luật đi cùng trách nhiệm, giám sát đi cùng hành động và kiểm soát quyền lực đi cùng kiến tạo phát triển.

Bởi một cảnh báo được phát hiện sớm có thể ngăn chặn một sai phạm. Một sai phạm được ngăn chặn có thể bảo vệ nguồn lực của Nhà nước, uy tín của tổ chức và danh dự của cán bộ.

Và từ những việc làm cụ thể, bền bỉ ấy, niềm tin của Nhân dân được củng cố.

Đích đến của công tác kiểm tra, giám sát không phải là tạo ra ngày càng nhiều cảnh báo, mà là làm cho ngày càng ít sai phạm có cơ hội xảy ra.

Đừng để những cảnh báo chỉ dừng lại trên màn hình. Hãy biến chúng thành hành động, thành trách nhiệm và thành những chuyển biến thực chất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Tô Quang Minh - Ban Kỹ thuật VAECO/06
Share bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chào mừng trở lại!

Đăng nhập vào tài khoản của bạn dưới đây

Lấy lại mật khẩu của bạn

Vui lòng nhập tên người dùng hoặc địa chỉ email để đặt lại mật khẩu của bạn.

GỬI Ý KIẾN THÀNH CÔNG!

Chào Anh/Chị,
VNA Spirit đã ghi nhận những chia sẻ tâm huyết của Anh/Chị. Sự đóng góp này chính là động lực để mỗi chuyến bay của chúng ta thêm An toàn – Đúng giờ – Hiệu quả.

Góc thông điệp

“Góc thông điệp” là nơi VNA Spirit trân quý tiếp nhận các ý kiến, đề xuất từ CBNV – những con người đang ngày đêm đóng góp thầm lặng, bền bỉ cho mỗi chuyến bay của Vietnam Airlines.

Mỗi thông điệp gửi về sẽ được tổng hợp, lựa chọn và hiển thị tại đây như những hành động nhỏ nhưng thiết thực, cùng nhau góp phần nâng cao an toàn, đúng giờ và hiệu quả trong khai thác.