Quy định về Vận tải hàng không
Nghị định số 208/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định về vận tải hàng không, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tóm tắt như sau.
Doanh nghiệp mới kinh doanh vận tải hàng không thương mại thường lệ vận chuyển hành khách phải được chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và đáp ứng các điều kiện về vốn, tổ chức bộ máy quản lý điều hành và phương án có tàu bay khai thác.
Về điều kiện vốn, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng không thương mại thường lệ phải duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu là 300 tỷ đồng khi khai thác đến 10 tàu bay; 600 tỷ đồng khi khai thác từ 11 đến 30 tàu bay; và 700 tỷ đồng khi khai thác trên 30 tàu bay. Đối với vận tải hàng không thương mại không thường lệ, mức vốn chủ sở hữu tối thiểu là 100 tỷ đồng.
Trường hợp có nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn, nhà đầu tư nước ngoài không được nắm giữ quá 34% vốn điều lệ; phải có ít nhất một cá nhân hoặc pháp nhân Việt Nam nắm giữ phần vốn điều lệ lớn nhất; nếu pháp nhân Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại pháp nhân đó không vượt quá 49%.
Về tổ chức bộ máy, doanh nghiệp phải bổ nhiệm Giám đốc điều hành và người phụ trách các lĩnh vực quản lý an toàn, chất lượng, an ninh, khai thác bay, khai thác mặt đất, huấn luyện tổ bay và quản lý bảo dưỡng tàu bay. Các chức danh này phải có tối thiểu 03 năm kinh nghiệm liên tục trong lĩnh vực được giao phụ trách. Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số lượng người nước ngoài trong bộ máy quản lý điều hành không được vượt quá một phần ba tổng số thành viên.
Về phương án khai thác tàu bay, doanh nghiệp phải xây dựng phương án về số lượng, chủng loại, tuổi tàu bay; hình thức thuê hoặc mua tàu bay; phương án khai thác, bảo dưỡng và nguồn nhân lực phục vụ khai thác, bảo dưỡng tàu bay.
Doanh nghiệp được cấp Giấy phép kinh doanh vận tải hàng không thương mại thường lệ được phép thực hiện cả hoạt động vận tải hàng không thương mại không thường lệ. Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp giấy phép, doanh nghiệp phải đưa dịch vụ vận tải hàng không thương mại vào khai thác.
Quy định số lượng tàu bay tối thiểu phải duy trì trong suốt quá trình hoạt động là 03 tàu bay đối với vận tải hàng không thương mại thường lệ và 01 tàu bay đối với vận tải hàng không thương mại không thường lệ.
Điều 36 Nghị định này quy định về nghĩa vụ của người vận chuyển đối với hành khách trong trường hợp chậm chuyến. Chuyến bay bị chậm là chuyến bay có thời gian đi thực tế muộn hơn 15 phút so với thời gian đi theo lịch bay căn cứ. Chuyến bay bị chậm kéo dài là chuyến bay bị chậm từ 04 giờ so với thời gian đi theo lịch bay căn cứ.
Nghị định số 208/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và bãi bỏ các Nghị định số 30/2013/NĐ-CP, 97/2020/NĐ-CP, 15/2024/NĐ-CP, 89/2025/NĐ-CP và Chương XXII của Nghị định số 14/2026/NĐ-CP.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về an ninh hàng không
Nghị định số 215/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/6/2026 về An ninh hàng không quy định chi tiết một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng tại Việt Nam; có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, có nội dung chính sau:
Công tác bảo đảm an ninh hàng không là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, Chính phủ và ngành hàng không dân dụng nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản, tàu bay, công trình, trang thiết bị hàng không; phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi can thiệp bất hợp pháp, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, bảo đảm tuyệt đối an ninh đối với các chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang. Công tác bảo đảm an ninh hàng không là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân liên quan, với lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt; các sự cố, vi phạm phải được xử lý, báo cáo kịp thời và rút kinh nghiệm nhằm khắc phục sơ hở, thiếu sót. Hoạt động bảo đảm an ninh hàng không phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan, đồng thời bảo đảm hoạt động khai thác hàng không an toàn, liên tục và hiệu quả.
Về cấm vận chuyển bằng đường hàng không, Nghị định quy định các mức xử lý gồm: Cấm vận chuyển từ 03 đến 12 tháng đối với hành vi gây rối, đe dọa hoặc tung tin giả về bom, mìn, chất nổ, sử dụng giấy tờ giả đi tàu bay hoặc vi phạm trật tự, an toàn xã hội tại cảng hàng không, trên tàu bay; cấm vận chuyển từ trên 12 đến 24 tháng đối với trường hợp tái phạm hoặc có hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng theo quy định của Luật; cấm vận chuyển đến khi chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng; cấm vận chuyển vĩnh viễn đối với trường hợp tái phạm nghiêm trọng, thực hiện các hành vi can thiệp bất hợp pháp đặc biệt nghiêm trọng hoặc chiếm đoạt, gây bạo loạn tại cảng hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ điều hành bay. Cục Quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp cấm vận chuyển đối với các trường hợp nêu trên. Quyết định cấm vận chuyển được áp dụng đối với các chuyến bay nội địa và các chuyến bay quốc tế xuất phát từ Việt Nam của tất cả các hãng hàng không Việt Nam và nước ngoài.
Về phí bảo đảm an ninh hàng không, Nghị định quy định miễn phí đối với chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại của Đảng và Nhà nước; túi ngoại giao, túi lãnh sự; trẻ em dưới 02 tuổi đi tàu bay và các trường hợp được miễn theo điều ước quốc tế hoặc quy định pháp luật có liên quan. Trẻ em từ đủ 02 tuổi đến dưới 12 tuổi được áp dụng mức thu phí bằng 50% mức thu đối với hành khách người lớn. Việc bù trừ hoặc hoàn trả số phí nộp thừa hoặc không còn thuộc đối tượng chịu phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về Cảng hàng không, bãi hạ cất cánh
Nghị định số 205/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/6/2026 quy định điều kiện kinh doanh cảng hàng không, điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, trình tự cấp Giấy phép kinh doanh cảng hàng không và các trường hợp thu hồi, hủy bỏ giấy phép; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
- Điều kiện kinh doanh cảng hàng không (Điều 22)
Doanh nghiệp kinh doanh cảng hàng không phải đáp ứng các điều kiện sau: Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 100 tỷ đồng và duy trì trong suốt quá trình hoạt động; Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác; Có bộ máy, nhân sự bảo đảm thực hiện công tác an toàn hàng không, an ninh hàng không và khai thác cảng hàng không; Người phụ trách công tác an toàn hàng không phải có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện về hệ thống quản lý an toàn hàng không; người phụ trách công tác an ninh hàng không phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về an ninh hàng không.
- Cấp Giấy phép kinh doanh cảng hàng không (Điều 23 và Điều 24)
Giấy phép kinh doanh cảng hàng không được cấp cho doanh nghiệp để kinh doanh tại một hoặc nhiều cảng hàng không.
Trường hợp thay đổi phạm vi kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục sửa đổi, bổ sung giấy phép.
Hồ sơ đề nghị cấp phép được gửi đến Cục Hàng không Việt Nam.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện thẩm định hoặc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.
Bộ Xây dựng có trách nhiệm cho ý kiến trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ lấy ý kiến.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi nhận được ý kiến của Bộ Xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện cấp Giấy phép kinh doanh cảng hàng không và thông báo cho Cảng vụ hàng không để kiểm tra, giám sát.
- Các trường hợp hủy bỏ Giấy phép kinh doanh cảng hàng không (Điều 27)
Giấy phép kinh doanh cảng hàng không bị hủy bỏ trong các trường hợp: Không duy trì mức vốn chủ sở hữu tối thiểu trong 02 năm liên tục; Cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép; Không được cấp Giấy chứng nhận cảng hàng không trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép…
Điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không (Điều 30)
Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không phải đáp ứng các điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất và vốn như sau:
Điều kiện về tổ chức bộ máy, nhân sự : Có nhân viên hàng không được đào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ phù hợp với lĩnh vực kinh doanh; Có người phụ trách công tác an toàn hàng không đã được đào tạo về hệ thống quản lý an toàn hàng không và có tối thiểu 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo đảm an toàn hàng không; Có người phụ trách công tác an ninh hàng không theo quy định của pháp luật.
Điều kiện về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và hệ thống tài liệu: Có hoặc có phương án bảo đảm cơ sở hạ tầng, phương tiện, trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh; Có hệ thống tài liệu về an toàn hàng không, an ninh hàng không, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và bảo vệ môi trường theo quy định.
Hệ thống tài liệu bao gồm các nội dung chủ yếu như: hệ thống quản lý an toàn; phương án ứng phó khẩn nguy; quy định an toàn đối với người, phương tiện hoạt động tại sân bay; chương trình an ninh hàng không; quy trình cung cấp dịch vụ; phương án dự phòng nguồn lực; phương án chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và hồ sơ môi trường.
Điều kiện về vốn: Mức vốn chủ sở hữu tối thiểu 30 tỷ đồng đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa, kho hàng hóa và dịch vụ xăng dầu hàng không; Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ khai thác nhà ga hành khách, nhà ga hàng hóa, kho hàng hóa và dịch vụ phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất không vượt quá 30% vốn điều lệ, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác; Doanh nghiệp cảng hàng không trực tiếp kinh doanh dịch vụ hàng không không phải đáp ứng điều kiện về mức vốn chủ sở hữu tối thiểu nêu trên.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về Nhà chức trách hàng không
Nghị định 221/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/6/2026 về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và quản lý an toàn hàng không, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, với các nội dung trọng tâm sau:
Điều 3 và Chương II: Bổ sung quy định về người đứng đầu Nhà chức trách hàng không Việt Nam; chức năng xây dựng, cập nhật quy định an toàn hàng không; thẩm quyền quyết định miễn trừ và công nhận áp dụng tiêu chuẩn, hướng dẫn của ICAO.
Chương về an ninh hàng không: Sửa đổi, bổ sung quy định bảo đảm an ninh hàng không phù hợp Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2025; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Nhà chức trách hàng không Việt Nam và Nhà chức trách an ninh hàng không trong kiểm tra, giám sát duy trì an ninh, an toàn hàng không.
Chương III: Bổ sung quy định về Hệ thống quản lý an toàn hàng không, bao gồm Chương trình an toàn hàng không dân dụng Việt Nam, hệ thống thu thập, đánh giá và xử lý dữ liệu an toàn hàng không, Trung tâm dữ liệu an toàn hàng không quốc gia phục vụ quản lý, điều hành và ứng phó khẩn nguy theo tiêu chuẩn ICAO.
Chương IV: Bổ sung quy định về giám sát viên an toàn hàng không, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, tiêu chuẩn năng lực, chế độ đào tạo và phát triển giám sát viên.
Chương V: Bổ sung quy định về xây dựng, quản lý và chia sẻ cơ sở dữ liệu ngành hàng không dân dụng, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực hàng không.
Điều về nguồn tài chính: Cho phép Nhà chức trách hàng không Việt Nam được sử dụng một phần phí thu được để thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của ICAO.
Chương về nhân viên hàng không: Bổ sung quy định về quản lý nhân viên hàng không; đánh giá trình độ tiếng Anh theo tiêu chuẩn ICAO đối với tổ lái và kiểm soát viên không lưu; quy định về sức khỏe, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi và kỷ luật lao động đối với công việc đặc thù.
Chương về đào tạo, huấn luyện: Bổ sung quy định về cấp miễn trừ cho tổ chức, cá nhân và điều kiện cấp giấy chứng nhận cơ sở đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không phù hợp tiêu chuẩn ICAO.
Chương về điều kiện kinh doanh: Rà soát, bổ sung các điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực hàng không dân dụng bảo đảm thống nhất với Luật Đầu tư số 143/2025/QH15.
Chương về điều tra sự cố, tai nạn tàu bay: Bổ sung quy định về cơ quan điều tra sự cố nghiêm trọng, tai nạn tàu bay thuộc Bộ Xây dựng, hoạt động độc lập với Nhà chức trách hàng không Việt Nam.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về tàu bay và khai thác tàu bay
Nghị định 223/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/6/2026, có hiệu lực từ 01/7/2026 quy định về tàu bay và khai thác tàu bay.
Các Điều 9, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 61 và Điều 99 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025 quy định:
– Đăng ký quốc tịch, quản lý, xoá đăng ký quốc tịch tàu bay; đăng ký, xoá đăng ký quyền đối với tàu bay; giấy chứng nhận loại, giấy chứng nhận đủ điều kiện bay; nhập khẩu, xuất khẩu tầu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay.
– Người khai thác tàu bay, giấy chứng nhận người khai thác tàu bay; chuyển giao nghĩa vụ giữa quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay và quốc gia của người khai thác tàu bay; đình chỉ thực hiện chuyến bay; yêu cầu tàu bay hạ cánh; vận chuyển hàng hóa nguy hiểm.
– Tổ chức thiết kế, thử nghiệm, sản xuất, bảo dưỡng tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay.
– Bảo vệ môi trường.
Điều 4 Nghị định 223/2026/NĐ-CP quy định về tàu bay và khai thác tàu bay như sau:
Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động liên quan đến tàu bay và khai thác tàu bay phải luôn tuân thủ đầy đủ và duy trì liên tục các điều kiện an toàn theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng.
Tổ chức, cá nhân quy định tại 1 có trách nhiệm:
– Tuân thủ và duy trì liên tục các quy định và giới hạn hoạt động được ghi trong giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, quyết định phê chuẩn, công nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp;
– Khi không đáp ứng các quy định và giới hạn hoạt động được ghi trong giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, quyết định phê chuẩn, công nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp thì phải tạm dừng hoạt động cho đến khi đáp ứng đầy đủ;
– Khi có kế hoạch thay đổi phạm vi hoạt động, năng định được phê chuẩn, nguồn lực, tổ chức bộ máy mà ảnh hưởng đến yêu cầu, tiêu chuẩn là cơ sở của việc cấp phép, phê chuẩn thì tổ chức, cá nhân chỉ được áp dụng thực hiện sự thay đổi sau khi được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn; tổ chức, cá nhân phải bảo đảm đầy đủ các nguồn lực và điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác phê chuẩn và kiểm tra, giám sát an toàn theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng;
– Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phòng, chống cháy nổ theo quy định của pháp luật;
– Thiết lập, quản lý, lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến hoạt động tàu bay và khai thác tàu bay bằng ngôn ngữ tiếng Việt hoặc ngôn ngữ của quốc gia thiết kế tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay dưới hình thức văn bản giấy hoặc điện tử, nếu đáp ứng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và an ninh mạng;
– Thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp cận để thực hiện kiểm tra, giám sát an toàn đối với tàu bay và khai thác tàu bay, bao gồm cả trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động khai thác của tổ chức theo quy định của pháp luật;
– Lưu giữ, niêm yết giấy chứng nhận tổ chức công khai, rõ ràng tại trụ sở chính. Không được phép thực hiện quảng cáo sai lệch so với phạm vi hoạt động được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động liên quan đến tàu bay và khai thác tàu bay. Các hành vi không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định tại Nghị định 223/2026/NĐ-CP sẽ là căn cứ để Nhà chức trách hàng không Việt Nam thu hồi, đình chỉ các giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, quyết định phê chuẩn, phạm vi hoạt động được phê chuẩn có liên quan ngoại trừ trường hợp việc không tuân thủ là để đảm bảo an toàn hàng không.
Các văn bản quy phạm pháp luật sau hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 223/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành:
– Nghị định 68/2015/NĐ-CP quy định đăng ký quốc tịch và đăng ký các quyền đối với tàu bay;
– Nghị định 246/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 68/2015/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 64/2022/NĐ-CP.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về hoạt động bay
Nghị định 222/2026/NĐ-CP ban hành ngày 22/6/2026 về hoạt động bay, có hiệu lực từ 01/7/2026.
Nghị định này bổ sung Bộ Công an là trong các cơ quan có thẩm quyền cấp, sửa đổi và hủy bỏ phép bay.
Theo khoản 3 Điều 14 Nghị định 222/2026/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an được giao cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay đối với các chuyến bay được thực hiện bởi tàu bay của Bộ Công an phục vụ mục đích công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự.
Bộ trưởng Bộ Công an được giao quy định chi tiết trình tự, thủ tục cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay thuộc thẩm quyền của mình.
Điều 14 Nghị định 125/2015/NĐ-CP trước đây chỉ quy định 03 cơ quan có thẩm quyền cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay gồm Cục Lãnh sự, Cục Tác chiến và Cục Hàng không Việt Nam. Nghị định cũ không giao thẩm quyền cấp phép bay cho Bộ Công an cũng như chưa có quy định riêng đối với các chuyến bay do tàu bay của Bộ Công an thực hiện.
Việc bổ sung thẩm quyền cho Bộ Công an, Nghị định 222/2026/NĐ-CP cũng phân định rõ phạm vi cấp phép của từng cơ quan, như:
Cục Lãnh sự tiếp tục cấp phép đối với các chuyến bay chuyên cơ nước ngoài, chuyến bay chở khách mời của Đảng, Nhà nước và các chuyến bay phục vụ nhiệm vụ đối ngoại;
Cục Tác chiến cấp phép đối với tàu bay quân sự thực hiện hoạt động bay dân dụng, chuyến bay vận chuyển vũ khí, chuyến bay hoạt động ngoài đường hàng không và một số trường hợp đặc thù khác;
Cục Hàng không Việt Nam cấp phép đối với các chuyến bay dân dụng không thuộc thẩm quyền của các cơ quan nêu trên.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về Hợp đồng xây dựng
Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ hướng dẫn Luật Xây dựng về hợp đồng xây dựng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Trong đó, Điều 12 quy định chi tiết về tạm ứng hợp đồng xây dựng đối với các dự án đầu tư công và dự án PPP.
Nguyên tắc tạm ứng hợp đồng (Khoản 1, khoản 2 Điều 12):
Tạm ứng hợp đồng xây dựng là khoản kinh phí bên giao thầu ứng trước không tính lãi cho bên nhận thầu để thực hiện các công việc theo hợp đồng.
Mức tạm ứng, số lần tạm ứng, thời điểm tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng và mức thu hồi tạm ứng do các bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng xây dựng.
Đối với nhà thầu liên danh, việc phân chia khoản tạm ứng cho các thành viên liên danh được thực hiện theo hợp đồng xây dựng hoặc thỏa thuận liên danh.
Điều kiện thực hiện tạm ứng (Điểm a khoản 3 Điều 12):
Việc tạm ứng chỉ được thực hiện khi: Hợp đồng xây dựng đã có hiệu lực; Bên giao thầu đã nhận được bảo lãnh tạm ứng (đối với trường hợp phải bảo lãnh); Hợp đồng thi công xây dựng, phải có kế hoạch giải phóng mặt bằng hoặc biên bản bàn giao mặt bằng theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Quy định về mức tạm ứng và hồ sơ mời thầu (Điểm b khoản 3 Điều 12):
Mức tạm ứng, số lần tạm ứng, thời điểm tạm ứng và mức thu hồi tạm ứng phải được quy định cụ thể trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc dự thảo hợp đồng, làm cơ sở để nhà thầu tính toán giá dự thầu, đồng thời phải phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn của dự án.
Bảo lãnh tạm ứng hợp đồng (Điểm c và điểm d khoản 3 Điều 12):
Đối với hợp đồng có giá trị tạm ứng trên 01 tỷ đồng, nhà thầu phải nộp bảo lãnh tạm ứng trước khi nhận tiền tạm ứng.
Không bắt buộc bảo lãnh đối với hợp đồng có giá trị tạm ứng từ 01 tỷ đồng trở xuống hoặc hợp đồng thực hiện theo hình thức tự thực hiện, kể cả do cộng đồng dân cư thực hiện.
Bảo lãnh tạm ứng có hiệu lực đến khi thu hồi hết số tiền tạm ứng và được giảm dần tương ứng với số tiền đã thu hồi qua các lần thanh toán.
Trách nhiệm sử dụng tiền tạm ứng (Điểm đ khoản 3 Điều 12):
Bên nhận thầu có trách nhiệm sử dụng tiền tạm ứng đúng mục đích, đúng đối tượng theo nội dung hợp đồng đã ký kết.
Tạm ứng đối với cấu kiện, vật tư, thiết bị có giá trị lớn (Điểm e khoản 3 Điều 12):
Đối với hợp đồng có yêu cầu sản xuất cấu kiện, bán thành phẩm hoặc dự trữ vật liệu, vật tư để bảo đảm tiến độ thi công, các bên được thỏa thuận riêng về kế hoạch và mức tạm ứng cho các công việc này; khoản tạm ứng này không tính vào mức tạm ứng hợp đồng quy định chung.
Mức tạm ứng tối đa (Điểm g khoản 3 Điều 12):
Mức tạm ứng hợp đồng không vượt quá 30% giá hợp đồng tại thời điểm ký kết (bao gồm cả chi phí dự phòng nếu có).
Trường hợp cần tạm ứng cao hơn 30% để đặt cọc hoặc thanh toán trước cho nhà sản xuất, nhà cung cấp vật tư, thiết bị hoặc các trường hợp cần thiết khác thì phải được người quyết định đầu tư chấp thuận.
Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, việc quyết định mức tạm ứng vượt 30% thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Mức tạm ứng tối thiểu theo loại hợp đồng (Điểm h khoản 3 Điều 12), đối với hợp đồng tư vấn: Trên 10 tỷ đồng: tối thiểu 15% giá hợp đồng; Đến 10 tỷ đồng: tối thiểu 20% giá hợp đồng.
Đối với hợp đồng thi công xây dựng: Trên 50 tỷ đồng tối thiểu 10% giá hợp đồng; Từ 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng tối thiểu 15% giá hợp đồng; Dưới 10 tỷ đồng: tối thiểu 20% giá hợp đồng.
Đối với hợp đồng cung cấp vật tư, thiết bị; hợp đồng EC, EP, PC, EPC; hợp đồng chìa khóa trao tay và các loại hợp đồng khác:
Tối thiểu 10% giá hợp đồng.
Điều chỉnh giá đối với phần tạm ứng vượt mức tối thiểu (Điểm i khoản 3 Điều 12):
Trường hợp các bên thỏa thuận mức tạm ứng cao hơn mức tối thiểu theo quy định, phần giá trị hợp đồng tương ứng với khoản tạm ứng vượt mức tối thiểu sẽ không được điều chỉnh giá kể từ thời điểm tạm ứng, kể cả trường hợp tạm ứng nhiều lần.
Thu hồi tiền tạm ứng (Điểm k khoản 3 Điều 12):
Tiền tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán; Mức thu hồi từng lần do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; Việc thu hồi phải bảo đảm hoàn tất khi giá trị thanh toán lũy kế (bao gồm tiền tạm ứng và khối lượng hoàn thành được thanh toán) đạt 80% giá trị hợp đồng đã ký kết.
Điều 12 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2026, việc tạm ứng hợp đồng xây dựng tại các dự án đầu tư công và PPP được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của các bên nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc về điều kiện tạm ứng, bảo lãnh tạm ứng, mức tạm ứng tối đa không quá 30% giá hợp đồng, mức tạm ứng tối thiểu theo từng loại hợp đồng và yêu cầu thu hồi toàn bộ tiền tạm ứng khi giá trị thanh toán lũy kế đạt 80% giá trị hợp đồng. Điều này nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư, đồng thời tạo điều kiện cho nhà thầu triển khai thực hiện hợp đồng đúng tiến độ.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về quản lý chất lượng thi công xây dựng
Nghị định 207/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/6/2026, có hiệu lực từ 01/7/2026 quy định chi tiết một số điều của luật xây dựng về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, so với Thông tư 06/2021/NĐ-CP có những điểm mới như sau:
Về Phạm vi điều chỉnh về cơ cấu nội dung:
Nghị định 06/2021/NĐ-CP chỉ quy định điều chỉnh chung về quản lý chất lượng, thi công và bảo trì công trình.
Nghị định 207/2026/NĐ-CP bổ sung và phân định rõ một số nội dung quản lý chuyên sâu, nổi bật là việc bổ sung Mục 2 Chương II Nghị định 207/2026/NĐ-CP “Bàn giao hạng mục công trình, công trình xây dựng, bàn giao công trình xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng khu đô thị”
Về ứng dụng công nghệ thông tin (BIM):
Điều 11 Nghị định 207/2026/NĐ-CP bổ sung mới hoàn toàn nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thi công xây dựng công trình. Quy định rõ việc lựa chọn ứng dụng giải pháp công nghệ thông tin, mô hình thông tin công trình (BIM) để quản lý thi công, quản lý chất lượng, nghiệm thu.
Nghị định 06/2021/NĐ-CP chưa có một điều khoản riêng biệt nào quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin, BIM trong quản lý thi công
Quy định Nghiệm thu hoàn thành và đưa vào sử dụng
Nghị định 207/2026/NĐ-CP tách bạch quy định thành các Điều độc lập:
– Điều 28: Hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng.
– Điều 29: Điều kiện để đưa công trình, hạng mục công trình vào khai thác, sử dụng.
Nghị định 06/2021/NĐ-CP chỉ gộp chung tại một điều khoản (Điều 23: Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử dụng).
Điều kiện đưa vào sử dụng đối với Dự án Khu đô thị:
Nghị định 207/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 3 Điều 29: Chủ đầu tư phải hoàn thành việc xây dựng các công trình thuộc hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình khác theo đúng tiến độ, thiết kế đã được phê duyệt mới được đưa công trình vào sử dụng.
Nghị định 06/2021/NĐ-CP Không có quy định điều kiện riêng biệt cụ thể cho dự án khu đô thị.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Nghị định 206/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/6/2026 quy định chi tiết về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, có hiệu lực từ 01/7/2026, có điểm chú ý sau:
Khoản 2 Điều 29 Nghị định 206/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2026, chủ đầu tư được điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng, bao gồm cả chi phí dự phòng, mà không phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, với điều kiện không làm thay đổi mục tiêu, quy mô dự án, cơ cấu nguồn vốn, không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt và bảo đảm tiến độ, mục tiêu của dự án.
Khoản 3 Điều 29, chủ đầu tư có trách nhiệm kiểm tra, rà soát, thẩm định việc xác định các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư; bảo đảm đầy đủ căn cứ xác định khối lượng, giá xây dựng và phù hợp với thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu công nghệ của dự án.
Khoản 7 Điều 29 quy định chủ đầu tư phải quản lý, sử dụng vốn và chi phí đầu tư xây dựng, bao gồm chi phí dự phòng, đúng mục tiêu, quy mô, thiết kế, tiến độ, chất lượng dự án và bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt. Đối với dự án PPP, việc quản lý chi phí phải bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư và phần vốn nhà nước theo hợp đồng, trừ trường hợp được điều chỉnh theo quy định của pháp luật về đầu tư công và đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về đầu tư xây dựng
Nghị định 217/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/6/2026 quy định chi tiết một số nội dung về đầu tư xây dựng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trình tự đầu tư xây dựng dự án theo khoản 1 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2025 được thực hiện qua 03 giai đoạn:
Giai đoạn chuẩn bị dự án (điểm a khoản 1 Điều 4):
Bao gồm các công việc chủ yếu như: lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư (nếu có); lập đề xuất chương trình, dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch phục vụ lập dự án; khảo sát xây dựng; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật; phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng và các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
Giai đoạn thực hiện dự án (điểm b khoản 1 Điều 4):
Bao gồm các công việc như: chuẩn bị mặt bằng xây dựng; rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng phục vụ thiết kế; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng và dự toán; cấp giấy phép xây dựng (nếu thuộc trường hợp phải cấp phép); ký kết hợp đồng xây dựng; thi công, giám sát thi công; nghiệm thu, vận hành chạy thử; bàn giao công trình đưa vào sử dụng; quyết toán hợp đồng xây dựng và các công việc cần thiết khác liên quan đến thực hiện dự án.
Giai đoạn kết thúc xây dựng (điểm c khoản 1 Điều 4):
Bao gồm quyết toán hợp đồng xây dựng (nếu có), quyết toán vốn đầu tư xây dựng; bảo hành công trình; bàn giao hồ sơ và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến dự án.
Ngoài ra, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định riêng về trình tự đầu tư xây dựng đối với công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm, dự án đầu tư công đặc biệt; dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP); và dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay.
Đối với các dự án không thuộc các trường hợp nêu trên, khoản 5 Điều 4 Nghị định 217/2026/NĐ-CP cho phép người quyết định đầu tư căn cứ điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án để quyết định thực hiện tuần tự hoặc đồng thời các công việc thuộc giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng, phù hợp với nội dung quyết định phê duyệt dự án.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động xây dựng:
Theo Điều 15 Luật Xây dựng năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động xây dựng bao gồm:
Xây dựng công trình trong khu vực cấm xây dựng theo quy định của pháp luật;
Xây dựng công trình không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn được áp dụng;
Khởi công xây dựng khi chưa đủ điều kiện theo quy định;
Sản xuất, sử dụng vật liệu xây dựng không bảo đảm chất lượng, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường;
Vi phạm quy định về an toàn lao động, phòng cháy và chữa cháy, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường;
Sử dụng công trình không đúng mục đích, công năng hoặc thực hiện cơi nới, lấn chiếm trái phép;
Đưa, nhận hối lộ; thông đồng, dàn xếp làm sai lệch kết quả trong hoạt động xây dựng;
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; bao che hoặc chậm xử lý vi phạm pháp luật về xây dựng;
Cản trở hoạt động xây dựng hợp pháp;
Tự ý thay đổi thiết kế đã được thẩm định, phê duyệt làm ảnh hưởng đến an toàn công trình, môi trường hoặc công tác phòng cháy và chữa cháy.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án
Nghị định 193/2026/NĐ-CP, Chính phủ ban hành ngày 1/6/2026, có hiệu lực từ 01/7/2026 quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án, có nội dung chú ý sau:
Điều 5 Nghị định này có quy định về quyết toán vốn đầu tư dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập.
Đối với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
– Trường hợp trong chủ trương đầu tư dự án nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng được tách thành dự án độc lập: việc lập báo cáo quyết toán và thẩm tra, phê duyệt quyết toán được thực hiện như một dự án độc lập.
– Đối với các trường hợp còn lại: đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chịu trách nhiệm báo cáo quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp với cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và gửi quyết định phê duyệt tới chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng để tổng hợp vào báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án của toàn bộ dự án.
– Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thì đơn vị, tổ chức được cấp có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án (sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp) có trách nhiệm tiếp tục tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và thực hiện báo cáo quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân quản lý đơn vị, tổ chức được giao thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
– Cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán toàn bộ dự án không phải thẩm tra lại phần chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt quyết toán, trừ trường hợp người có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư toàn bộ dự án yêu cầu thẩm tra lại chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt quyết toán.
Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giao đơn vị chuyên môn thuộc quyền quản lý hoặc công chức chuyên môn thuộc quyền quản lý (đối với cấp xã không tổ chức phòng) chủ trì thẩm tra quyết toán và quy định cụ thể thời gian lập, thẩm tra, phê duyệt quyết toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, bảo đảm không được làm ảnh hưởng đến chủ đầu tư dự án khi lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án.
Chi tiết xem: tại đây
Quy định về bảo hiểm bắt buộc
Nghị định 220/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/6/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng.sửa đổi Điều 32 Nghị định 67/2023/NĐ-CP quy định về đối tượng bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng như sau:
Chủ đầu tư có trách nhiệm mua bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng đối với các công trình sau:
– Công trình có ảnh hưởng lớn đến an toàn, lợi ích cộng đồng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
– Công trình xây dựng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao hoặc có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
– Công trình quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Sửa đổi Điều 33 Nghị định 67/2023/NĐ-CP quy định số tiền bảo hiểm tối thiểu trong hoạt động đầu tư xây dựng như sau:
– Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm bắt buộc công trình trong thời gian xây dựng là giá trị đầy đủ của công trình khi hoàn thành, bao gồm toàn bộ vật liệu, chi phí nhân công, thiết bị lắp đặt vào công trình, cước phí vận chuyển, các loại thuế, phí khác và các hạng mục khác do chủ đầu tư cung cấp. Số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với công trình trong thời gian xây dựng không được thấp hơn tổng giá trị hợp đồng xây dựng, kể cả giá trị điều chỉnh, bổ sung (nếu có).
– Số tiền bảo hiểm tối thiểu được quy định tại Hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp có thay đổi về số tiền bảo hiểm tối thiểu do điều chỉnh giá trị công trình xây dựng, bên mua bảo hiểm phải có trách nhiệm thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày điều chỉnh giá trị công trình xây dựng hoặc theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo hiểm.
Thay thế một số cụm từ tại Nghị định 67/2023/NĐ-CP như sau:
– Thay thế cụm từ “người thứ ba” bằng cụm từ “bên thứ ba” tại khoản 5 Điều 3, Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 10, khoản 2 và điểm a khoản 6 Điều 12, khoản 5 Điều 13, Điều 41, khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 43, khoản 1, 3 và 4 Điều 46, khoản 3 Điều 47, Điều 54, Điều 55, khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 56, Điều 57, khoản 1 Điều 58, Điều 59, Điều 60, tiêu đề Mục 4 Chương IV.
– Thay thế cụm từ “hoạt động đầu tư xây dựng” bằng cụm từ “hoạt động xây dựng” tại tên Nghị định, khoản 1 và khoản 3 Điều 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 2, điểm b khoản 5 Điều 3, điểm c khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 4, Điều 63, điểm a khoản 2 Điều 75, Phụ lục VIII, Phụ lục IX và Phụ lục X và tiêu đề Chương IV.
– Thay thế cụm từ “bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư xây dựng” thành “bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn xây dựng” tại tiêu đề Mục 2 Chương IV, Điều 41, Điều 44, khoản 1 Điều 45, Điều 47 và Phụ lục IV.
– Thay thế cụm từ “theo quy định tại Điều 47 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng” thành “theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng” tại điểm a khoản 3 Điều 40, điểm a khoản 5 Điều 47 và điểm a khoản 5 Điều 60.
Chi tiết xem: tại đây

















