Văn bản liên quan đến Hàng không
Thông tư số 40/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 06/4/2026, có hiệu lực từ 07/6/2026 Quy định miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải:
K1, Điều 1: Miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại Biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016/TT-BTC ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
K3, Điều 3: Không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại Số thứ tự 3 và 10 Điều 1 Thông tư số 64/2025/TT-BTC ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2026.
Chi tiết xem tại: đây
Các Luật có hiệu lực từ 01/3/2026
- Luật sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ 2025 (Luật số 131/2025/QH15) có một số điểm mới
a. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động SHTT
Rút ngắn thời gian thẩm định nội dung (Điều 119 – sửa đổi, bổ sung):
Sáng chế: Thời hạn thẩm định nội dung giảm xuống còn 12 tháng kể từ ngày công bố đơn;
Nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý: Thời hạn thẩm định nội dung là 06 tháng kể từ ngày công bố đơn.
Đơn giản hóa thủ tục xác lập, đăng ký quyền:
Thẩm định nhanh (Điều 119, khoản 2a – bổ sung mới): Cho phép yêu cầu thẩm định nhanh đối với đơn sáng chế và nhãn hiệu nếu đáp ứng điều kiện, nhận kết quả trong vòng 3 tháng;
Tự động chấp nhận đơn hợp lệ: Loại bỏ một số bước trung gian, đơn được coi là chấp nhận về hình thức khi công bố;
Đẩy mạnh số hóa: Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong quy trình xử lý.(ii) Thúc đẩy khai thác thương mại quyền SHTT.
Luật quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền SHTT nhằm biến quyền SHTT thành tài sản sinh lời, góp phần phát triển kinh tế – xã hội; quy định rõ chủ sở hữu được sử dụng quyền SHTT để thực hiện giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư, v.v theo quy định của pháp luật cũng như chính sách khuyến khích khai thác quyền SHTT, sử dụng quyền SHTT để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn
b. Bảo hộ đối tượng mới
Luật mở rộng bảo hộ cho một số đối tượng mới, cụ thể:
– Bổ sung cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho phần không tách rời được của sản phẩm (bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần) và mở rộng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý (ví dụ: giao diện đồ họa người dùng (GUI), icon, v.v).
– Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.
c. Quy định một số vấn đề liên quan đến AI
Xác lập quyền đối với AI (Điều 6.5 – mới): Giao Chính phủ quy định về việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với các đối tượng được tạo ra có sự hỗ trợ của hệ thống AI.
Huấn luyện AI (Điều 7.5 – bổ sung): Cho phép sử dụng các tác phẩm, dữ liệu hợp pháp để huấn luyện mô hình AI, nghiên cứu khoa học, miễn là không ảnh hưởng quá mức đến quyền lợi hợp pháp của tác giả/chủ sở hữu quyền.
Bảo hộ thiết kế (Điều 1.1 – sửa đổi): Mở rộng bảo hộ thiết kế công nghiệp cho cả các “thiết kế bán phần” và “sản phẩm phi vật thể” (như giao diện người dùng GUI, biểu tượng), hỗ trợ các sản phẩm tạo ra từ công nghệ số/AI(v) Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền SHTT
d. Luật bổ sung thêm các chế tài, biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số, quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền SHTT; đồng thời nâng mức bồi thường thiệt hại theo luật định để tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn,như:
Buộc gỡ bỏ/vô hiệu hóa nội dung vi phạm (Điều 202, Khoản 7 mới): Tòa án buộc gỡ bỏ, ẩn hoặc vô hiệu hóa truy cập đến thông tin, tài khoản, website, ứng dụng liên quan đến hành vi xâm phạm.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 207): Bổ sung các biện pháp nhanh chóng như chặn truy cập, ẩn nội dung/tài khoản/ứng dụng vi phạm trên không gian mạng để ngăn chặn thiệt hại không thể khắc phục.
Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm (Điều 202, Khoản 1): Yêu cầu dừng ngay hành vi đăng tải, phát tán nội dung vi phạm quyền.
Buộc xin lỗi, cải chính công khai (Điều 202, Khoản 2): Áp dụng khi hành vi xâm phạm làm tổn hại đến uy tín, danh dự của chủ thể quyền.
Buộc bồi thường thiệt hại (Điều 202, Khoản 4 & Điều 205): Yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần dựa trên các căn cứ mới về tính toán thiệt hại trên môi trường số.
Chi tiết xem tại: đây
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, các điểm mới nổi bật bao gồm:
– Ưu đãi công nghệ xanh: Bổ sung định nghĩa “công nghệ xanh” (Khoản 1 Điều 1 – sửa đổi Điều 2): Định nghĩa cụ thể “công nghệ xanh” là công nghệ sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Chính sách ưu tiên, khuyến khích (Khoản 3 và 6 Điều 1):Đưa công nghệ xanh vào danh mục khuyến khích chuyển giao hàng đầu.
Áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng cho dự án chuyển giao công nghệ xanh, công nghệ sạch.
Ưu tiên chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và trong nước để nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.
– Thúc đẩy thương mại hóa: Cho phép góp vốn bằng công nghệ, tự định đoạt giá trị công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, và cho phép tính chi phí chuyển giao công nghệ vào chi phí hợp lý khi tính thuế doanh nghiệp.
– Quản lý và hỗ trợ: Xây dựng cơ sở dữ liệu công nghệ trên nền tảng quốc gia, kiểm soát chặt chẽ công nghệ chuyển giao (nhất là công nghệ hạn chế), và tăng cường vai trò của các tổ chức trung gian thị trường.
– Hỗ trợ doanh nghiệp: Ưu đãi đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng cho các dự án FDI có chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chi tiết xem tại: đây
Các Nghị định
- Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư
Nghị định 96/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày hướng dẫn Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 31/3/2026,có hiệu lực kể từ ngày ký, có các nội dung chính như sau:
K1, Điều 1: Nghị định này quy định chi tiết Điều 6, Điều 7, Điều 8, khoản 2 Điều 10, Điều 14, Điều 15, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25, Điều 26, Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 44, Điều 46, Điều 47, Điều 49, Điều 51 và Điều 52 của Luật Đầu tư và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư về điều kiện đầu tư kinh doanh; ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm đầu tư kinh doanh; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; thủ tục đầu tư; xúc tiến đầu tư; chế độ báo cáo; quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam;
– Nhà đầu tư không được thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư.
– Việc sản xuất, sử dụng sản phẩm quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 6 của Luật Đầu tư trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, an ninh thực hiện như sau:
+ Các chất ma túy được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về danh mục chất ma túy, tiền chất và Công ước thống nhất về chống ma túy năm 1961, Công ước Liên hợp quốc năm 1988 về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần:
+ Các loại hóa chất, khoáng vật bị cấm theo quy định của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sản xuất, sử dụng theo quy định của Chính phủ về quản lý hóa chất thuộc diện kiểm soát của Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học và các văn bản hướng dẫn Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận có thông báo trước đối với một số hóa chất nguy hại và thuốc bảo vệ thực vật trong buôn bán quốc tế;
+ Mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã, mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên bị cấm theo quy định của Luật Đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép khai thác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp, pháp luật về đa dạng sinh học, pháp luật về thủy sản, quy định pháp luật có liên quan và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES).
– Việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung và đánh giá tình hình thực hiện các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư thực hiện theo trình tự, thủ tục tương ứng đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại các Điều 13 và Điều 14 Nghị định 96/2026.
Chi tiết tại: đây
- Phương thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Nghị định 85/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25/3/2026 quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung, quy định về các phương thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung như sau:
Các đối tượng quy định tại Điều 4 Nghị định 85/2026 được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
– Việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
– Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.
Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 05 năm.
Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này khi đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này hoặc khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Bị tử vong; (ii) Đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS; (iii) Có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng; (iv) Người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
Nghị định 85/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện (sau đây gọi tắt là Nghị định số 88/2016/NĐ-CP).
Chi tiết xem tại: đây
- Xử phạt trong lĩnh vực quảng cáo
Nghị định 87/2026/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 27/03/2026, có hiệu lực từ 15/5/2026, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo.
Điều 53 Nghị định 87/2026 có quy định về mức phạt vi phạm các quy định về nội dung quảng cáo cụ thể như sau:
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Quảng cáo có yêu cầu phải ghi chú, khuyến cáo, cảnh báo mà ghi chú, khuyến cáo, cảnh báo đó không được thể hiện đầy đủ, rõ ràng, dễ tiếp cận;
+ Chữ viết có màu không tương phản với màu nền hoặc nhỏ hơn cỡ chữ trong sản phẩm quảng cáo;
+ Nội dung ghi chú, khuyến cáo, cảnh báo không được đọc đầy đủ, rõ ràng với tốc độ và âm thanh tương đương tốc độ và âm thanh của các nội dung khác trong cùng sản phẩm quảng cáo.
– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo có một trong các nội dung quảng cáo sau đây:
+ Không trung thực, không chính xác, không rõ ràng;
+ Gây hiểu nhầm về tính năng, chất lượng, công dụng, tác dụng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
– Biện pháp khắc phục hậu quả:
+ Buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo in, tạp chí in quảng cáo đối với hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 53 Nghị định 87/2026;
+ Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền bán sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trong trường hợp đã bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kể từ thời điểm thực hiện quảng cáo đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều 53 Nghị định 87/2026.
Chi tiết xem tại: đây






