
Ở thành thị, người ta sống bằng múi giờ của đồng hồ và tiếng còi xe. Còn ở đây, giữa biển sương đang phủ kín mặt hồ, tôi có cảm giác mình vừa thức dậy trong một múi giờ khác – múi giờ của nước.
Chiều hôm trước, sau hơn 4 tiếng chạy xe từ Hà Nội lên đến Vườn Quốc gia Ba Bể của tỉnh Thái Nguyên, tôi xuống thuyền để vào bản Pác Ngòi. Mặt hồ xanh ngọc bích mở ra giữa những dãy núi đá vôi hùng vĩ. Thuyền lướt qua gò Bà Góa, hòn đảo đá nhỏ nằm lẻ loi giữa lòng hồ, nơi rễ cây cổ thụ bám vào từng kẽ đá và rủ bóng xuống mặt nước như một nét vẽ mềm mại của thiên nhiên. Khi hoàng hôn vừa buông xuống thuyền cũng cập bến. Bản làng của đồng bào người Tày nằm nép mình bên hồ với những ngôi nhà sàn gỗ nhuốm màu thời gian. Bà Lường Thị Tầm đón tôi ở đầu cầu thang bằng nụ cười hiền hậu. Lòng tôi bỗng rộn vui theo tiếng trẻ thơ đang nô đùa. Bên hiên nhà, các bà đang tỉ mỉ dạy con cháu se sợi, dệt vải. Kế bên gian bếp, vài chị em chậm rãi gói bánh lá, làn khói chiều lan tỏa mang theo hương nếp nương thơm dịu.

Bên bếp hồng thưởng những món ngon
Bữa tối được dọn quanh bếp than hồng – nơi người Tày xem là linh hồn của ngôi nhà. Nguyên liệu các món ăn đều thuận theo những gì hồ và rừng ban tặng. Mở đầu là cá mương nướng than hoa – những chú cá nhỏ chỉ bằng ngón tay, kẹp vào thanh tre chẻ đôi, thịt săn chắc thơm mùi khói bếp, vị bùi ngọt đến mức không cần chấm thêm gì. Tép hồ ủ men cùng xôi nếp ăn kèm thịt ba chỉ gác bếp, cân bằng vị béo chua cay theo cách chỉ người sống cạnh hồ mới nghĩ ra. Rau bò khai xào tỏi giòn sần sật, đắng nhẹ rồi để lại hậu vị ngọt thanh.
Trước bữa cơm, tôi theo chân bà Tầm xuống mép hồ xem bà con làm tép chua. Những con tép nhỏ vừa đánh bắt được trộn cùng xôi nếp, tỏi và ớt rồi cho vào chum sành ủ lên men tự nhiên. Bên chén rượu ngô men lá, câu chuyện giữa chủ và khách cứ thế dài ra theo hơi ấm bếp lửa. Nhìn lên hệ kèo cột vững chãi, tôi trầm trồ về ngôi nhà thì bà Tầm khẽ cười: “Nhà này giờ chỉ còn 5 gian thôi đấy. Ngày xưa, nhà sàn cổ của người Tày thường phải có 7 gian. Ngôi nhà cũng như cái thuyền, rừng mọc thế nào thì mình dựng nhà thế ấy, rộng quá thì hơi lạnh lùa, vừa vặn thì hơi người ấm. Thuận theo cái bụng của rừng, của hồ thì đời mình mới bền được…”
Đêm xuống, bản làng chìm trong tiếng côn trùng vọng từ đại ngàn và những luồng gió mát từ mặt hồ len qua khe cửa. Một giấc ngủ yên lành là điều tôi mong mỏi đã từ rất lâu.
Những lối rẽ của dòng sông Năng
Sáng hôm sau, khi biển sương tan, tôi xuống bến cùng chú Thơ – chồng bà Tầm, một người lái thuyền dạn dày sông nước. Thuyền rời hồ tiến vào dòng sông Năng để tới động Puông. Rừng già ven bờ phủ bóng xuống mặt nước, mang theo mùi đất ẩm và rêu đá cổ xưa.

Một vòm hang khổng lồ mở ra giữa núi đá vôi. Ông Thơ chủ động tắt máy thuyền. Không gian chỉ còn tiếng mái chèo khua nhẹ và tiếng nước vọng từ vách đá sâu thẳm. Tôi hỏi vì sao phải tắt máy, ông Thơ khẽ đáp: “Vào hang thì phải trả lại yên lặng cho hang, người Tày mình đi qua núi không nói to bao giờ. Mình tôn trọng đá thì đá mới giữ bình an cho mình.”
Rời động Puông, thuyền ngược dòng tới thác Đầu Đẳng. Tiếng nước gầm vang khi dòng sông Năng đổ xuống các tầng đá phủ rêu xanh, tung bọt trắng xóa. Nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, ông Thơ nói: “Mùa nước lớn, ngồi trong nhà sàn tận bản vẫn nghe rõ tiếng nước dội vào đá”.
Khi thuyền quay về, Pác Ngòi hiện ra từ xa như một khoảng lặng được núi và nước gìn giữ suốt bao đời. Rời Ba Bể, nhìn lại chiếc đồng hồ trên màn hình điện thoại, tôi biết mình sắp quay lại với múi giờ của những cuộc hẹn, những chuyến xe ngược xuôi. Chỉ có mặt hồ phía sau vẫn bình thản ở lại trong múi giờ của nước.
Xem thêm các bài viết về văn hóa, du lịch, phong cách sống địa phương tại đây: https://heritagevietnamairlines.com/

















