[Búa liềm vàng 2026] Kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội có thể đồng hành

Trước luận điệu cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội giống như mặt trăng với mặt trời không thể đồng hành, bài viết chứng minh hai sự vật này hoàn toàn có thể cùng tồn tại và tương tác với nhau thành một chỉnh thể thống nhất hữu cơ.

Tổ máy số 4 Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại
Tổ máy số 4 Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại chính thức phát điện từ cuối năm 1986. (Ảnh minh họa: TTXVN/Báo Nhân Dân)

Gần 40 năm trước, khi đất nước ta chập chững “trở mình” bước vào công cuộc đổi mới, đã có không ít những kẻ “suy thoái” lập luận rằng: chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường giống như mặt trăng với mặt trời không thể đồng hành, cái này mọc thì cái kia lặn, như một tất yếu “tự ngàn đời”.

Rất tiếc, nhóm những kẻ chống lại đường lối đổi mới mô hình kinh tế ở nước ta không phải những người chưa có điều kiện học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách bài bản, chính quy mà lại có không ít người được “ăn học tử tế” và có ít nhiều cống hiến cho cách mạng cả trên bình diện lý luận và thực tiễn.

Cũng không cần thiết phải “gọi mặt chỉ tên” những người đó, chỉ xin nhắc lại luận đề mà họ sử dụng để chống lại đường lối đổi mới của đất nước ta, đặc biệt chống phá mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đang xây dựng.

Đó là “kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội giống như mặt trăng với mặt trời không thể đồng hành”.

Bài viết này phản bác lại luận điểm đó và chứng minh kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể cùng tồn tại và tương tác với nhau thành một chỉnh thể thống nhất hữu cơ.

Kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại

Kinh tế thị trường phát triển từ kinh tế hàng hóa. Theo C. Mác, kinh tế hàng hóa là sản phẩm của trạng thái phát triển của lực lượng sản xuất đủ để quyết định tới quan hệ sản xuất, bắt nó, tức quan hệ sở hữu và quan hệ phân chia lợi ích giữa các chủ thể kinh tế phải mang hình thái trao đổi hàng hóa.

Phân công lao động xã hội bắt nguồn từ sự phân công trong “phường hội”, trong “tổ hợp tác”,… tức là trong những tập thể quy mô nhỏ. Phân công xã hội và phân công lao động xã hội tạo nên ngành, nghề, hình thức lao động cụ thể khác nhau.

Khi chưa có phân công, một người có thể làm tất cả các công việc, khi xuất hiện phân công thì từng người sẽ chuyên môn hóa.

Lao động chuyên môn hóa được hiểu là mỗi người chỉ làm một việc, hoặc một nhóm việc gần giống nhau, khi đã chuyên môn hóa cũng có nghĩa là một người không làm nhiều việc (những lao động cụ thể khác nhau) mà chỉ chuyên làm một việc.

“Trong một xã hội mà nói chung sản phẩm đều mang hình thái hàng hóa, nghĩa là trong xã hội của những người sản xuất hàng hóa, thì sự khác nhau về chất đó giữa các loại lao động có ích – những loại lao động này được tiến hành một cách độc lập đối với nhau với tư cách là công việc riêng của những người sản xuất độc lập – sẽ phát triển thành một hệ thống có rất nhiều ngành, thành sự phân công lao động xã hội”.

Như vậy, để một nền kinh tế tự cung tự cấp (tự sản tự tiêu, kinh tế tự nhiên) chuyển thành kinh tế hàng hóa phải có hai điều kiện. Thứ nhất, phân công lao động xã hội. Thứ hai, sự phân công lao động xã hội đó diễn ra giữa những chủ thể độc lập với nhau về kinh tế, trước hết độc lập về sở hữu và quan hệ phân phối.

Trong công xã Ấn Độ cổ đại đã có sự phân công khá sâu (chuyên môn hóa hẹp), những quan hệ giữa những người lao động không phải là những chủ thể kinh tế độc lập nên kinh tế hàng hóa chưa xuất hiện.

Sự phân công chuyên môn hóa, dù là nội bộ hay mang tính xã hội đều là đòi hỏi khách quan tất yếu của sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Một người làm nhiều việc, tức là tiến hành nhiều loại lao động cụ thể rất khác nhau, nhưng đều là một sự chi phí sản xuất về óc, bắp thịt, thần kinh và bàn tay, v.v., của con người.

Chuyên môn hóa làm cho người lao động chuyên tâm, chuyên nghiệp, làm một việc nhiều lần (lặp đi lặp lại) nhờ đó mà: thứ nhất, có kiến thức sâu về lĩnh vực đang làm; thứ hai, tự điều chỉnh bỏ đi những động tác thừa, do đó làm tăng năng suất tư liệu sản xuất đồng thời tăng năng suất lao động.

Như vậy, lịch sử loài người chứng minh rằng, kinh tế hàng hóa ra đời có nguồn gốc sâu xa từ phân công lao động xã hội, phân công lao động xã hội là đòi hỏi khách quan của tăng năng suất công cụ lao động và tăng năng suất lao động con người.

Do đó, kinh tế hàng hóa ra đời là một sự thay thế tự nhiên của kinh tế tự cung, tự cấp; là kết quả trực tiếp của sự phát triển của sức sản xuất.

V.I. Lênin trong tác phẩm “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường” (1893) đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp dưới tác động của phân công chuyên môn hóa giữa những chủ thể độc lập với nhau tất yếu sẽ xuất hiện thị trường, kinh tế thị trường.

Khi hàng hóa sức lao động ra đời thì kinh tế hàng hóa giản đơn sẽ “tự động” chuyển hóa thành kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

Kinh tế phát triển dưới tác động của lực lượng sản xuất phát triển và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp, theo lý luận Mác – Lênin, đó là quy luật “vĩnh cửu” của sự tiến bộ loài người. Một hệ quả tất yếu khách quan của quá trình sản xuất của cải là trao đổi lao động với nhau thông qua trao đổi sản vật.

Phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất làm cho (tất yếu) con người phải trao đổi sản phẩm với nhau.

Người chuyên trồng chuối sẽ có nhiều chuối hơn, người chuyên nuôi gà có nhiều gà hơn, và họ thiết lập quan hệ trao đổi với nhau bằng cách trao đổi sản phẩm của mình với người kia.

Xét về hình thức biểu hiện đó là trao đổi sản phẩm kết quả lao động, xét về thực chất, đó là trao đổi lao động với nhau.

Nếu như cả người trồng chuối và người nuôi gà không có sự khác biệt về quan hệ sở hữu, và theo đó không có sự khác biệt về lợi ích kinh tế thì sự trao đổi lao động không chuyển hóa thành trao đổi hàng hóa.

Trong điều kiện những người sản xuất độc lập, người trồng chuối là một chủ thể độc lập với người nuôi gà thì sự trao đổi lao động của họ với nhau mang hình thái trao đổi hàng hóa, tức là trao đổi hai đại lượng giá trị bằng nhau với nhau.

Kinh tế hàng hóa ra đời là một tất yếu, nó không phải là phạm trù vĩnh viễn, nghĩa là, không gắn liền, gắn mãi với xã hội loài người.

Khi loài người mới “thoát thai” từ thế giới động vật chưa có kinh tế hàng hóa, và sau này khi loài người tiến tới chủ nghĩa cộng sản văn minh cũng sẽ không cần thiết duy trì kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.

Lúc đó, loài người sẽ phát minh ra phương thức trao đổi hoạt động với nhau trên nền tảng của cống hiến, bình đẳng và tự nguyện.

Chủ nghĩa xã hội không làm mất đi điều kiện phát triển kinh tế thị trường

Theo C. Mác cũng như hầu hết các nhà kinh tế chính trị học đều thừa nhận, kinh tế hàng hóa là một phạm trù lịch sử và sự ra đời, phát triển của nó phải có những điều kiện nhất định. Thứ nhất, có sự phân công lao động xã hội. Thứ hai, có sự độc lập về kinh tế giữa các chủ thể với nhau.

Như vậy, cứ ở đâu có hai điều kiện nêu trên là có cả điều kiện cần và điều kiện đủ cho sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển. Cũng với logic và cách tiếp cận đó, có thể khẳng định kinh tế hàng hóa chỉ có thể mất đi khi những điều kiện của nó không còn.

Phân tích kỹ lưỡng về chủ nghĩa xã hội cho thấy những điều kiện cần thiết cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa vẫn đầy đủ, thậm chí còn “nhiều dưỡng chất” cho kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường “vươn lên” mạnh mẽ.

Điều kiện thứ nhất là phân công lao động xã hội. Dưới chủ nghĩa xã hội, sự vận động của nền kinh tế, của toàn xã hội vừa tuân thủ theo những quy luật khách quan vốn có của nó, vừa được thúc đẩy nhanh hơn, sâu sắc, toàn diện hơn do những tác động chủ quan có định hướng của Đảng và Nhà nước ở đó.

Phân công lao động xã hội cũng vậy, trước hết nó diễn ra theo những quy luật nội tại vốn có của cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Thêm vào đó có sự nhận thức và tác động chủ quan có định hướng, có ý thức, dựa trên những tri thức khoa học nên sự phân công lao động ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô đều tốt hơn, chất lượng hơn.

Phân công lao động chuyên môn hóa càng sâu, càng chuyên nghiệp thì cơ sở kinh tế làm nảy sinh các quan hệ trao đổi lao động và trao đổi sản phẩm càng nhiều hơn về kênh và quy mô càng lớn về sản lượng.

Điều kiện quan trọng nhất của kinh tế hàng hóa là phân công lao động xã hội. Ở Việt Nam ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cùng với quyền làm chủ của nhân dân đã kiến tạo nên những điều kiện thuận lợi và rất đầy đủ cho kinh tế hàng hóa ra đời, phát triển.

Một khi mảnh đất cho sự ra đời kinh tế hàng hóa vẫn đầy đủ thì “cây đời” kinh tế hàng hóa tốt tươi là tất yếu.

Điều kiện thứ hai là có sự độc lập về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế. Các chủ thể kinh tế trước hết độc lập với nhau về quan hệ sở hữu, và quan hệ phân phối. Thể chế sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa là cơ sở kinh tế, vừa là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ hàng hóa, tiền tệ.

Trong quan hệ trao đổi giữa các chủ thể, đặc biệt là trao đổi hàng hóa thì nguyên tắc ngang giá là tối thượng.

Linh hồn của quan hệ trao đổi giữa hai chủ thể là lợi ích được bảo đảm, nghĩa là, xét về lợi ích trước, trong và sau trao đổi lợi ích các bên đều được đảm bảo. Cách thức thỏa mãn lợi ích của các bên là “ngang giá”, nghĩa là trao đổi hai đại lượng giá trị bằng nhau cho nhau.

Trong thực tiễn, tất cả các bên tiến hành trao đổi khi xác định được lợi ích của mình được đảm bảo. Chủ thể nào nhận thấy lợi ích của mình thua thiệt, không đảm bảo, lập tức thỏa thuận bị dừng.

Bối cảnh hiện nay trong thời kỳ quá độ ở nước ta, Đảng, Nhà nước chủ trương và có nhiều giải pháp thiết thực để hình thành nhiều chủ thể sản xuất, kinh doanh độc lập thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.

Đảng mặc nhiên thừa nhận tính đa dạng về hình thức sở hữu và thành phần kinh tế, có nghĩa là xác định trạng thái phong phú đa dạng về các chủ thể kinh tế thuộc nhiều chế độ sở hữu, nhiều trình độ phát triển của sức sản xuất.

Mỗi thành phần kinh tế và tương ứng với nó là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh mang bản chất của chế độ sở hữu tương ứng.

Càng nhiều chủ thể kinh tế trong trạng thái phân công xã hội ngày càng chuyên sâu sẽ quyết định quy mô, cường độ và sự bao trùm của các quan hệ trao đổi hàng hóa.

Dung lượng thị trường, cường độ trao đổi, số lượng chủ thể độc lập trên thị trường… sẽ quyết định sôi động của thị trường hay tính chất kinh tế hàng hóa cao hay thấp.

Công nhân làm việc tại một phân xưởng lắp ráp linh kiện điện tử
Công nhân làm việc tại một phân xưởng lắp ráp linh kiện điện tử. (Ảnh minh họa: Báo Nhân Dân)

Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường.

Nhà nước Việt Nam thiết kế mô hình kinh tế có nhiều chủ thể tham gia, đồng thời kích hoạt thị trường, gia tăng tính chất và cường độ của trao đổi hàng hóa thông qua việc bổ sung nguồn lực cơ bản theo cơ chế thị trường.

Điều này được hiểu là những nguồn lực kinh tế của nhà nước khi bước vào thị trường phải dưới hình thái hàng hóa và chịu sự quy định, tác động của các quy luật thị trường. Ví dụ, vật phẩm tồn tại với tư cách “giá trị sử dụng” tiêu dùng trực tiếp, tức là không mang hình thái hàng hóa, thì người ta có thể bảo quản tùy ý.

Nhưng nếu vật thể đó khoác lên mình “cái áo hàng hóa”, nó tất yếu phải theo quy định của thị trường về quy chuẩn giá trị sử dụng, dưới hình thái định lượng giá trị sử dụng như: cân gạo, mét vải, “chục xoài”…

Mặt khác, nguồn lực kinh tế nhà nước tham gia thị trường thông qua cơ chế thị trường còn được hiểu là, thông qua cơ chế giá thị trường chứ không thông qua hình thức: cho, biếu, tặng… hoặc thông qua hình thức đấu thầu.

Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Nếu trước đây, do sai lầm về nhận thức kỳ thị, thì nay đã được chỉnh sửa và cách ứng xử rất cởi mở với kinh tế tư nhân.

Một khu vực kinh tế rất giàu tiềm năng về vốn, kinh nghiệm và bản lĩnh thương trường, tri thức, kinh nghiệm… có một thời bị lãng quên, thậm chí xem nhẹ; kích hoạt đánh thức khu vực tư nhân là một quyết định hoàn toàn đúng đắn, hợp quy luật và hợp lòng dân.

Thị trường có sự tham gia của khu vực tư giống như thổi thêm luồng sinh khí, bồi bổ thêm sức sống, kéo dài thêm mãi “bàn tay” thị trường tới mọi ngõ ngách cuộc sống.

Kinh tế tư nhân có sức sống rất dẻo dai và chịu sự “va đập” của pháp luật, do đó sức bền bỉ của nó, sức bám rễ của nó rất mạnh, cũng nhờ những khả năng đó của kinh tế tư nhân mà nền kinh tế thị trường không bị đứt gãy, xáo trộn lớn.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được “trải thảm đỏ” mở rộng thị trường và thị phần trong nước theo chính sách pháp luật, quy hoạch, kế hoạch của nền kinh tế quốc nội.

Thị trường rộng mở cho tất cả các chủ thể nước ngoài vừa thể hiện tư duy nhận thức rất cởi mở về kinh tế thị trường, vừa là sự thực hành tác nghiệp trực tiếp để thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các yếu tố thị trường, các loại thị trường đều có thể hình thành và phát triển trên “mảnh đất” xã hội chủ nghĩa. Trên thị trường có những yếu tố cơ bản là cung, cầu, giá cả.

Cung là khái niệm của kinh tế thị trường phản ánh tình trạng về số lượng, chủng loại hàng hóa cho thị trường được giới hạn bởi không gian và thời gian.

Ví dụ, ở một quốc gia có 300 thợ cơ khí bậc 7/7, thì cung hay lượng cung trong một năm về thợ cơ khí 7/7 nhiều nhất là 300 người. Cung và lượng cung phụ thuộc vào nhiều nhân tố tác động và có độ biến thiên khá lớn; nhưng trong những điều kiện nhất định, có thể “khu trú” đại lượng của nó khá chính xác.

Mức độ chính xác phụ thuộc vào chủ thể “thống kê” và độ chính xác, minh bạch của “thị trường thông tin”.

Cầu hay lượng cầu là khái niệm dùng để biểu thị số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ thị trường cần, có nhu cầu trong một không gian và thời gian xác định. Cũng có thể hiểu cầu là tổng thể tất cả các chủ thể có nhu cầu về một loại hàng hóa nhất định.

Ví dụ một tỉnh có 200.000 học sinh lớp 10, nếu mọi giả định được thống nhất và mỗi học sinh phải có một cuốn sách giáo khoa lớp 10 Lịch sử Việt Nam, ta có tổng cầu là 200.000 cuốn.

Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế thị trường. Theo C. Mác, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị; là công cụ phản ánh đại lượng giá trị, tức là số lượng lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa.

Giá trị khác với giá trị sử dụng ở chỗ, nó (giá trị) không tự bộc lộ hay thể hiện ra bên ngoài, trên bề mặt xã hội như giá trị sử dụng mà phải thông qua giá trị sử dụng của vật thể đối diện với tư cách là “vật liệu” biểu hiện giá trị.

Cũng theo C. Mác, khi vật ngang giá chung làm chức năng biểu thị giá trị của hàng hóa cố định ở vàng, hoặc bạc thì hình thái tiền ra đời.

Giá cả hàng hóa là một yếu tố quan trọng của thị trường. Bởi vì không có giá cả thì không có cơ sở để xác lập các mối quan hệ trên thị trường.

Không có giá cả, thứ nhất, vật cần trao đổi mua bán không thể bộc lộ được giá trị nội tại của mình. Thứ hai, không có giá cả sẽ không có căn cứ để xác lập mối quan hệ so sánh. Thí dụ, 1 mét vải muốn tương đương hoặc bằng với 5 kg thóc, thì trước hết từng nhân vật thóc, vải phải thể hiện mình là một đại lượng giá trị.

Tức là 1 mét vải có giá 8 đồng và 5 kg thóc cũng có giá 8 đồng vì thế hai vật phẩm đó có thể trao đổi được với nhau, vì chúng tương đồng nhau về giá trị, và cùng được bộc lộ ra bên ngoài bằng đại lượng giá cả 8 đồng.

Thứ ba, giá cả là công cụ pháp lý để nhà nước bảo vệ và bảo hộ cho các chủ thể trên thị trường tiến hành các quan hệ giao dịch, ký kết, trao đổi mua bán một cách bình đẳng, ngang giá và có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với các tranh chấp xảy ra sau khi hành vi mua bán, thanh toán kết thúc.

Giá cả còn là công cụ để nhà nước thu thuế. Hầu hết các loại thuế dưới hình thái tiền đều phải thông qua phạm trù giá cả.

Thứ tư, giá cả là công cụ để hạch toán kinh tế. Trong sản xuất kinh doanh, hạch toán và phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm tăng hiệu quả kinh tế.

Để đánh giá hiệu quả, hay hiệu suất kinh doanh, thông thường người ta xác lập mối quan hệ so sánh giữa số vốn bỏ ra và số tiền thu về sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh.

Từ đó, người ta xác lập tỷ lệ % của số tiền dôi ra (lợi nhuận) với tổng số tiền ứng ra để có được số lợi nhuận đó; kinh tế chính trị gọi đó là tỷ suất lợi nhuận (P’%), để có số liệu của cả tử số và mẫu số đều phải thông qua công cụ giá cả. Như vậy giá cả tự nó đã trở nên cực kỳ quan trọng đối với kinh tế thị trường.

Quan điểm cho rằng chủ nghĩa xã hội không có đất cho giá cả ra đời và vận động là một cách nói bừa, nói ẩu, thậm chí không hiểu gì về kinh tế hàng hóa, về buôn bán, trao đổi hay kinh tế thị trường.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh
Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh minh họa: Thành Đạt/Báo Nhân Dân)

Kinh tế thị trường không quy định bản chất chế độ chính trị

Những chủ thể trao đổi là những người “xã hội chủ nghĩa”, những “người cộng sản” không ảnh hưởng gì tới bản chất của hành vi và nội dung trao đổi. Kinh tế hàng hóa là nền sản xuất ra của cải để trao đổi mua bán. Kinh tế tự cấp tự túc là nền kinh tế sản xuất của cải để trực tiếp tiêu dùng.

Trên cùng một thửa ruộng, thậm chí trong một “hộp xốp” trồng cùng một loại rau húng. Nếu hái để ăn trực tiếp đó là kinh tế tự cấp tự túc. Cũng rau đó đem trao đổi mua bán là kinh tế hàng hóa. Đặc trưng nổi bật của kinh tế hàng hóa là tạo ra sản phẩm cho người khác, cho xã hội tiêu dùng.

Phương thức cũng như con đường để người sản xuất và người tiêu dùng quan hệ với nhau là trao đổi mua bán.

Như vậy dấu hiệu đặc trưng của kinh tế hàng hóa là quan hệ thị trường, tức là quan hệ giữa người sản xuất (cung) với người tiêu dùng là cầu. Công cụ quan hệ là hàng và tiền, H-T, thị trường và giá cả.

Một “nhân vật” có vẻ “vô hình” đó là nhà nước, cung cấp môi trường pháp lý và hệ thống quy chuẩn, quy phạm và tiêu chuẩn quốc gia để hành vi trao đổi mua bán được diễn ra thuận lợi, an toàn, cùng có lợi.

Bản chất của trao đổi mua bán không ảnh hưởng gì tới nội hàm của chủ nghĩa xã hội hay cộng sản. Bởi vì, giả định rằng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, ở đó những chủ thể kinh tế 100% cộng sản thì, chất cộng sản không liên quan gì tới chất ngang giá. Kinh tế hàng hóa là trao đổi ngang giá.

Sự vận động của thị trường là một chuỗi những quan hệ trao đổi mua bán và đều phải tuân thủ quy luật giá trị tức là quy luật về sự ngang bằng hay ngang giá. Nếu tuân thủ các quy luật thị trường thì dù trong môi trường tư bản hoặc xã hội chủ nghĩa, thị trường, kinh tế thị trường đều có thể phát triển tốt tươi.

Những người cộng sản trao đổi hàng hóa với nhau, tức là trao đổi lao động cho nhau dưới tác động và quy định của phân công lao động xã hội. Vì vậy, cộng sản A trao đổi với cộng sản B thông qua quan hệ H-T chẳng hề làm cho bản chất của quan hệ trao đổi bị sai lệch, biến dạng.

Thậm chí trong môi trường xã hội chủ nghĩa, việc trao đổi giữa những chủ thể là đồng chí của nhau sẽ “rất ngang giá”, nghĩa là trong môi trường đồng chí, yêu cầu về ngang giá được nhận thức, được duy trì và được luật pháp bảo vệ một cách có hệ thống.

Với cách tiếp cận từ yêu cầu ngang giá của quy luật giá trị, trong môi trường cộng sản, nguyên tắc này được duy trì cao hơn, tốt hơn, thường xuyên hơn những xã hội khác cũng có kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường hoạt động.

Kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đã tồn tại ở nhiều chế độ chính trị. Bản chất kinh tế thị trường không quy định bản chất chế độ chính trị mà ngược lại. Theo Ph. Ăngghen, kinh tế hàng hóa ra đời cách đây 5 đến 7 nghìn năm. Nó phôi thai, manh nha từ xã hội nô lệ.

Và, cứ ở đâu có phân công lao động xã hội và có nhiều chủ thể kinh tế độc lập thì phát sinh quan hệ trao đổi mua bán.

Lập luận theo cách đó, kinh tế hàng hóa đã từng “sinh sống” ở chế độ nô lệ, xã hội phong kiến và phát triển đỉnh điểm ở chủ nghĩa tư bản.

Tất cả những nhà kinh tế học, bất luận theo trường phái nào, đứng trên lập trường tư tưởng của giai cấp nào và bảo vệ lợi ích cho ai, đều thừa nhận kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường có thể sinh tồn trong nhiều chế độ chính trị khác nhau, thậm chí đối ngược nhau.

Bởi vì bản chất và nhu cầu dinh dưỡng của kinh tế thị trường không phải là chế độ chính trị mà là sự trao đổi ngang giá.

Đối với chủ nghĩa xã hội như ở nước ta, tuy rằng chúng ta mới đang trong thời kỳ quá độ, tức là chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng xong, đang tiến hành và còn nhiều khó khăn trắc trở.

Và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không hề phá bỏ hay làm mất đi những điều kiện cần thiết cho kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường phát triển.

Thậm chí, trong hành trình ấy, Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, đội ngũ doanh nhân, hệ thống doanh nghiệp đang từng ngày, từng giờ sản sinh ra, kiến tạo nên những mảnh đất màu mỡ, nhiều dinh dưỡng cho kinh tế thị trường phát triển.

Kẻ nào đó hồ đồ nói rằng chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường giống như mặt trăng và mặt trời, không thể đồng hành là một sự nói bừa, nói ẩu, nói lấy được. Kẻ đó chẳng hiểu gì về chủ nghĩa xã hội hiện thực và cũng chẳng hiểu gì về kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.

Cũng giống như các nhà trồng trọt học, muốn biết giống cây nào đó có mọc được trên một mảnh đất nhất định phải làm hai việc: thứ nhất cây đó đòi hỏi yêu cầu gì về “sinh cảnh” và thứ hai, miếng đất lựa chọn ấy có đủ những khoáng chất, độ ẩm, không khí, vi sinh… cho cây sinh trưởng phát triển không.

Kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội xét về mặt bản chất có tính độc lập khá cao. Đặc biệt chúng không quy định lẫn nhau. Sự phát triển của cái này không cản trở sự vật kia.

Tuy nhiên, hai sự vật ấy “kết hợp, hòa quyện với nhau” sẽ tạo thành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình kinh tế rất cần sự phát triển của tư duy lý luận cũng như sự tổng kết thực tiễn một cách bao trùm và rất sâu sắc.

Nguyễn Huỳnh Nhi - VIAGS Tân Sơn Nhất/06
Share bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chào mừng trở lại!

Đăng nhập vào tài khoản của bạn dưới đây

Lấy lại mật khẩu của bạn

Vui lòng nhập tên người dùng hoặc địa chỉ email để đặt lại mật khẩu của bạn.

GỬI Ý KIẾN THÀNH CÔNG!

Chào Anh/Chị,
VNA Spirit đã ghi nhận những chia sẻ tâm huyết của Anh/Chị. Sự đóng góp này chính là động lực để mỗi chuyến bay của chúng ta thêm An toàn – Đúng giờ – Hiệu quả.

Góc thông điệp

“Góc thông điệp” là nơi VNA Spirit trân quý tiếp nhận các ý kiến, đề xuất từ CBNV – những con người đang ngày đêm đóng góp thầm lặng, bền bỉ cho mỗi chuyến bay của Vietnam Airlines.

Mỗi thông điệp gửi về sẽ được tổng hợp, lựa chọn và hiển thị tại đây như những hành động nhỏ nhưng thiết thực, cùng nhau góp phần nâng cao an toàn, đúng giờ và hiệu quả trong khai thác.