
Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những chuyển biến mạnh mẽ và khó tiên lượng, đất nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ và hội nhập quốc tế sâu rộng. Cùng với đó, các quan điểm sai trái, thù địch trong và ngoài nước cũng nổi lên mạnh mẽ và có những biểu hiện ngày càng khó nhận biết hơn. Điều này đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đối với nền tảng tư tưởng của Đảng cũng như con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) của chúng ta.
Các nguyên tắc, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của Mác, Ăngghen, Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.
Việc đảm bảo các nguyên tắc phương pháp luận như: sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, sự thống nhất chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, đảm bảo tính khách quan và sáng tạo, tính toàn diện, lịch sử – cụ thể và phát triển.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tiễn ở nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn.”
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cơ sở, sức sống của lý luận là thực tiễn. Người dùng nhiều cách nói khác nhau, nhưng điều cốt lõi nhất mà Người muốn nhấn mạnh chính là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Nếu lý luận xa rời thực tiễn thì sớm muộn cũng dẫn tới bệnh giáo điều, sách vở; theo cách nói của Hồ Chí Minh đó là lý luận suông.
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”.
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là hệ thống quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường, phương pháp tiến hành cách mạng nhằm giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và là cơ sở vững chắc để Đảng đề ra chủ trương, đường lối lãnh đạo, là kim chỉ nam định hướng cho mọi hành động của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được cấu thành bởi hai thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Năm nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin cụ thể như sau:
Thứ nhất là nguyên tắc khách quan. Với nguyên tắc này, nhận thức về sự vật phải xuất phát từ chính bản thân sự vật hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó. Nguyên tắc khách quan là điều kiện cần thiết cho mọi nhận thức khoa học. Nếu nhận thức và phương pháp hoạt động của chủ thể không tôn trọng quy luật khách quan, nếu hoạt động thực tiễn không tuân theo quy luật khách quan chúng ta sẽ phải gánh chịu những kết quả không như mong muốn.
Nguyên tắc khách quan xuất phát từ quan điểm duy vật triệt để của triết học Mác – Lênin về thế giới. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nguyên tắc khách quan yêu cầu con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phản ánh trung thực sự vật với tất cả những bản chất vốn có của nó, tôn trọng những quy luật khách quan của hiện thực.
Nguyên tắc khách quan cũng đòi hỏi con người không được lấy ý chí áp đặt cho thực tế; không được lấy ý muốn chủ quan, nguyện vọng, tình cảm cá nhân bất chấp điều kiện thực tế làm xuất phát điểm cho chiến lược và sách lược cách mạng; không rơi vào chủ quan duy ý chí. Nếu thực hiện không đúng hoặc đi ngược lại những yêu cầu này, sẽ rơi vào sai lầm khác nhau, mà điển hình là chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong nhận thức và hành động, gây ra những hậu quả to lớn cho dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào.
Thứ hai là nguyên tắc toàn diện. Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức. Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp).
Đề cập đến 2 nội dung này, theo V.I. Lênin viết: “Muốn thực sự thấu hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”.
Những chỉ dẫn trên của V.I.Lênin nhắc nhở con người trong nhận thức, muốn biết chân tướng của sự vật cần phải xem xét sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của nó; phải xem xét sự vật, hiện tượng này trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác kể cả khâu trung gian của nó, phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn để từ đó thấy được vị trí, vai trò của các mối liên hệ giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Qua đó, chúng ta có thể xác định được những quan hệ trọng tâm, trọng điểm cần được giải quyết trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nguyên tắc toàn diện này cũng chỉ ra rằng, một luận điểm là đúng đắn trong những quan hệ này lại trở thành sai lầm trong những quan hệ khác, một luận điểm, một hướng đi, một cách làm là đúng đắn, hữu ích trong điều kiện này lại có thể là không phù hợp, có hại trong điều kiện khác.
Thứ ba là nguyên tắc phát triển. Phép biện chứng duy vật chỉ ra rằng, liên hệ là quá trình tác động qua lại, cái tạo thành “nguyên nhân cuối cùng của mọi sự vận động và biến đổi của sự vật”. Cho nên, mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng là nguyên nhân tạo nên sự vận động của chúng. Cũng chính do có mối liên hệ phổ biến mà trong thế giới khách quan luôn tồn tại xu hướng phát triển không ngừng.
Vật chất không vận động đi tới tiêu vong mà tạo ra sự chuyển hoá, biến đổi theo những hướng khác nhau, trong đó có khuynh hướng vận động theo chiều hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn (gọi là phát triển). Các chủ thể cần nhận thức và chuẩn bị các điều kiện cần thiết, các phương pháp hành động cho phù hợp để có được những biến đổi theo chiều hướng phát triển. Đây là quá trình phức tạp, bởi lẽ, sự biến đổi theo chiều hướng phát triển của hiện thực là quá trình vận động có tính quy luật nội tại, diễn ra trong nó, là quá trình phủ định biện chứng, phủ định có kế thừa.
Thứ tư là nguyên tắc lịch sử-cụ thể. Xem xét hiện tượng xã hội, V.I. Lênin chỉ dẫn rằng, cần phải “xem xét vấn đề theo quan điểm sau đây: một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xem xét hiện nay nó đã trở thành thế nào?”.
Phép biện chứng duy vật không chỉ là một lý luận khoa học cho phép phản ánh đúng đắn các sự vật, hiện tượng, nó còn là một công cụ sắc bén để mổ xẻ, phân tích các vấn đề xã hội và tìm ra các giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể. Chính nhờ công cụ sắc bén này, chủ nghĩa Mác đã tìm ra các quy luật vận động của xã hội, đã nhìn xã hội như một cơ thể sống luôn vận động, biến đổi do những mối liên hệ nội tại của nó tạo ra; thấy được vai trò quyết định của điều kiện vật chất, của cơ sở kinh tế nhưng cũng thấy vai trò hết sức to lớn của kiến trúc thượng tầng chính trị, của tư tưởng, văn hóa…
Điều đó đã khắc phục được tư tưởng duy tâm, siêu hình, lối nhìn nhận phản biện chứng trước đây. Khái lược điều đó cho thấy các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật là những nguyên tắc cơ bản để nhận thức về các mối quan hệ lớn ở nước ta hiện nay.
Thứ năm là nguyên tắc thực tiễn. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, thực tiễn là vận động nhận thức, hoạt động tinh thần. Các nhà tôn giáo cho rằng hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của những lực lượng siêu nhiên là thực tiễn. Có nhà triết học duy vật trước Mác cho hoạt động thực nghiệm của khoa học là thực tiễn.
Đây là quan điểm đúng nhưng chưa đầy đủ. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất-cảm tính mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Từ quan niệm này của triết học duy vật biện chứng về thực tiễn, chúng ta thấy thực tiễn có ba đặc trưng sau:
Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tính. Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng. Ví dụ, hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, làm thuỷ lợi, đắp đê, cày ruộng, v.v.
Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính chất lịch sử – xã hội. Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định.
Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộ. Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn.
Có ba hình thức thực tiễn cơ bản: sản xuất vật chất, hoạt động chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Sản xuất vật chất là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người. Ví dụ như hoạt động của sản xuất lương thực, thực phẩm, quần áo, tivi, máy tính… Hoạt động chính trị – xã hội là những hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị – xã hội, chẳng hạn như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp, mít tinh, biểu tình… Hoạt động thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, bởi lẽ, trong thực nghiệm khoa học, con người chủ động đưa công nghệ vào cải tạo thế giới.
Ba hình thức thực tiễn này liên hệ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó có sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định đối với hai hình thức thực tiễn kia. Tuy nhiên, hai hình thức thực tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất.
Thực tiễn vận dụng sáng tạo
Từ rất sớm, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm và cảnh báo nguy cơ xuất hiện, phát triển các căn bệnh ở các đảng cộng sản cầm quyền. Khi trở thành đảng duy nhất cầm quyền, Đảng rất dễ rơi vào quan liêu, duy ý chí, xa rời quần chúng dẫn đến sai lầm về đường lối, lấn sân, bao biện, làm thay Nhà nước, thậm chí dẫn đến “Đảng trị”, hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng làm suy yếu bản thân Đảng, vai trò của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1994) đã chỉ ra 4 nguy cơ, thách thức của đất nước: thứ nhất, chệch hướng xã hội chủ nghĩa; thứ hai, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới; thứ ba, tình trạng lợi dụng chức quyền tham ô, tham nhũng, quan liêu, lãng phí của cán bộ, đảng viên; thứ tư, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đại hội XII của Đảng khẳng định bốn nguy cơ, thách thức nêu trên tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn, như tình trạng tham nhũng, lãng phí, nguy cơ “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vấn đề “lợi ích nhóm” niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, của chế độ có mặt bị giảm sút.
Chính vì thế, Đại hội XII đòi hỏi Đảng ta phải “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tập trung thực hiện mục tiêu “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” trên nguyên tắc giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đánh giá: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.”
Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền những quan điểm sai trái, xuyên tạc, với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nhưng bằng sự chủ động, tích cực của toàn Đảng, toàn dân, công tác đấu tranh phản bác thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”.
Ngoài những yếu tố khách quan từ những tác động tiêu cực của tình hình thế giới và trong nước, một nguyên nhân mà mỗi chúng ta cần nhận rõ, đó là sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong khi đó, có lúc, có nơi việc nhận thức chưa đầy đủ, chưa chủ động, nhạy bén và thiếu các giải pháp phù hợp để định hướng thông tin, trên cơ sở đó tổ chức đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta.
Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.
Để áp dụng hiệu quả chiêu thức này chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt như: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025).
Đến kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 – 02/9/2025) chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng.
Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng “Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công” vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh… Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập…
Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.
Cụ thể: (i) Chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi… có xu hướng ngày càng phát triển, nói không đi đôi với làm, thiếu sự nêu gương về đạo đức, lối sống, mất uy tín với nhân dân; (ii) Tham nhũng, đưa và nhận hối lộ diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, mặc dù đã có nhiều biện pháp nhưng vẫn diễn ra nghiêm trọng, một số lĩnh vực vẫn có dấu hiệu gia tăng; (iii) Quan liêu, xa dân, lãnh đạm, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc, những yêu cầu, đòi hỏi chính đáng của nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng; (iv) Lối sống thiếu trung thực, cơ hội, chạy chọt (chạy thành tích, chạy bằng cấp, chức quyền, chạy chỗ, chạy dự án, đề tài, chạy tội khi bị phát hiện); kèn cựa địa vị, gây mất đoàn kết nội bộ; (v) Suy thoái đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ cá nhân với xã hội có chiều hướng gia tăng đáng lo ngại; (vi) Đạo đức nghề nghiệp bị sa sút, ngay cả trong lĩnh vực được xã hội tôn vinh như giáo dục, y tế, cơ quan bảo vệ pháp luật, báo chí; mê tín dị đoan có nhiều hướng lan rộng, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục và trật tự, an toàn xã hội.
Vận dụng sáng tạo ở đây cần được hiểu là vận dụng một cách linh hoạt nhưng đúng đắn các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong hoàn cảnh cụ thể. Đảng và Nhà nước đã vận dụng sáng tạo các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
Một số giải pháp
Theo Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII cũng chỉ rõ: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.
Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ và ban thường vụ cấp uỷ các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.”
Có thể thấy các thế lực thù địch không từ bất cứ âm mưu, thủ đoạn nào nhằm chống phá Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.
Một số giải pháp thúc đẩy sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước cần không ngừng đẩy mạnh tu dưỡng, rèn luyện đối với cán bộ, đảng viên nhằm đập tan những luận điệu lợi dụng sự suy thoái của một bộ phận đảng viên để gia tăng các luận điệu sai trái, thù địch, chống lại Đảng, chống lại chế độ và xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đảng cũng đã nhận thức được rằng, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là do thiếu tu dưỡng, rèn luyện; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong quản lý thông tin nội bộ, bảo vệ sự thống nhất về chính trị – tư tưởng trong Đảng. Khắc phục tình trạng sơ hở trong quản lý thông tin nội bộ cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tuyến phòng thủ đầu tiên của an ninh tư tưởng. Trọng tâm không chỉ là quản lý kỹ thuật tài liệu mà là bảo vệ sự thống nhất về nhận thức, lập trường và quan điểm chính trị trong Đảng, nhất là đối với các vấn đề lớn, nhạy cảm liên quan đến chủ trương, đường lối và công tác cán bộ.
Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, kỷ luật phát ngôn, sử dụng mạng xã hội; gắn trách nhiệm người đứng đầu với công tác quản lý thông tin nội bộ. Đồng thời, tăng cường giáo dục ý thức chính trị, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong phát ngôn và chia sẻ thông tin, không để những sơ hở từ bên trong trở thành “điểm tựa” cho các chiến dịch xuyên tạc trên không gian mạng.
Chủ động bảo vệ niềm tin xã hội thông qua định hướng dư luận kịp thời, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Thực tiễn cho thấy, khi các chủ trương, chính sách chưa được truyền thông kịp thời, thấu đáo, rất dễ hình thành “vùng trũng” dư luận. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được gắn chặt với bảo vệ và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nội dung bảo vệ là làm rõ bản chất vì Nhân dân, vì phát triển bền vững của các quyết sách lớn; kịp thời giải thích những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống chính trị – xã hội. Việc ứng dụng công nghệ số, AI trong theo dõi và dự báo dư luận cần phục vụ trực tiếp cho mục tiêu này nhằm phát hiện sớm các xu hướng lệch lạc, xử lý từ xa, không để thông tin sai trái dẫn dắt nhận thức xã hội, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị Đại hội XIV.
Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, quán triệt đường lối chủ trương của Đảng đối với tất cả các cấp uỷ đảng đối với công tác giáo dục đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên. Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên góp phần xây dựng đội ngũ đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Nhiều cấp uỷ của đảng, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò nền tảng của đạo đức trong ổn định và phát triển xã hội. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho đội ngũ đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí còn buông lỏng trong một thời gian dài, chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và những hậu quả gây ra.
Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý đảng viên; xây dựng đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Bên cạnh đó, cần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có hiệu quả, nhất là những việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là cấp uỷ đảng, ban thường vụ cấp uỷ các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước.
Thứ ba, đổi mới công tác tuyên truyền đạo đức cách mạng trong điều kiện mới. Việc tuyên truyền đạo đức cách mạng trong điều kiện mới phải được thực hiện thường xuyên, sâu sắc và thuyết phục. Việc xây dựng chuẩn mực đạo đức và giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp phải được quan tâm đúng mức, cụ thể hoá nội dung đạo đức đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng chức danh và phải được thực hiện nghiêm túc.
Đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ tránh hình thức, đơn điệu. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và có cơ chế bảo vệ người đấu tranh phê bình. Đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp cần nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu trong mọi lĩnh vực. Việc xử lý đảng viên vi phạm cần thực hiện kiên quyết, đúng quy định không nương nhẹ, nể nang. Nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng – lý luận trên không gian mạng theo hướng khoa học, thuyết phục và chuyên nghiệp.
Hạn chế về năng lực đấu tranh trên không gian mạng phản ánh rõ khoảng trống về bảo vệ nội dung lý luận cốt lõi của nền tảng tư tưởng trong hình thức và ngôn ngữ phù hợp với môi trường truyền thông số. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ phản bác cảm tính, khẩu hiệu sang đấu tranh dựa trên lập luận khoa học, dữ liệu xác thực và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới.
Trọng tâm bảo vệ là tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tính đúng đắn của đường lối đổi mới; vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Việc bồi dưỡng kỹ năng lập luận chính luận, truyền thông chính sách và xử lý tình huống tư tưởng cần gắn trực tiếp với các nội dung này, giúp cán bộ, đảng viên không chỉ “nói đúng”, mà còn “nói trúng”, “nói thuyết phục”, tránh rơi vào các “bẫy tranh luận” làm khuếch đại thông tin xấu độc.
Thứ tư, cần phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, câu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.
Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của Nhân dân. Người đứng đầu cấp uỷ chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ đảng viên.
Xây dựng môi trường sống của cơ quan, đơn vị lành mạnh, đội ngũ đảng viên có nếp sống văn hóa, có đạo đức cách mạng trong sáng; cấp trên làm gương cho cấp dưới, đảng viên nêu gương cho quần chúng, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Chủ động bảo vệ niềm tin xã hội thông qua định hướng dư luận kịp thời, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm. Thực tiễn cho thấy, khi các chủ trương, chính sách chưa được truyền thông kịp thời, thấu đáo, rất dễ hình thành “vùng trũng” dư luận. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần được gắn chặt với bảo vệ và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Nội dung bảo vệ là làm rõ bản chất vì Nhân dân, vì phát triển bền vững của các quyết sách lớn; kịp thời giải thích những vấn đề mới nảy sinh trong đời sống chính trị – xã hội. Việc ứng dụng công nghệ số, AI trong theo dõi và dự báo dư luận cần phục vụ trực tiếp cho mục tiêu này nhằm phát hiện sớm các xu hướng lệch lạc, xử lý từ xa, không để thông tin sai trái dẫn dắt nhận thức xã hội. Các cơ quan thông tin đại chúng cần chú trọng đưa tin cổ vũ những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương “người tốt việc tốt”.
Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích. Thông tin cổ vũ, ủng hộ và bảo vệ những người tích cực phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, kể cả thông tin những vụ, việc đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của cán bộ, đảng viên.
Thứ năm, cần gia tăng tổng kết hoạt động nghiên cứu lý luận và thực hiện trong tình hình mới. Những năm qua, các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để khẳng định tính cách mạng khoa học của mục tiêu lý tưởng, của đường lối, chủ trương, chính sách và những thành tựu của cách mạng chưa được quan tâm đúng mức.
Tính thuyết phục trong tuyên truyền đấu tranh phản bác còn hạn chế. Để khắc phục, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hơn nữa trong tổ chức các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chính là cơ sở khoa học để chúng ta nâng cao tính thuyết phục trong phản bác các luận điệu xuyên tạc và những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Làm sâu sắc vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học trong bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng. Một khoảng trống đáng chú ý hiện nay là chưa huy động đầy đủ sức mạnh học thuật trong bảo vệ các nội dung cốt lõi của nền tảng tư tưởng của Đảng.
Vì vậy, cần coi đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên lý luận là lực lượng nòng cốt trong việc luận chứng khoa học, phản biện học thuật và bảo vệ giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trước các quan điểm sai trái. Đấu tranh tư tưởng không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính hay phản ứng tình thế mà phải dựa trên uy tín học thuật, lập luận khoa học và tổng kết thực tiễn đổi mới. Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chính luận, tọa đàm và diễn đàn học thuật chính thống, đội ngũ trí thức sẽ góp phần hình thành “hàng rào lý luận” bền vững, có sức thuyết phục cao, định hướng nhận thức xã hội một cách lâu dài.
Thứ sáu, tăng cường sự chủ động của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong việc đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp. Điều này chỉ được tạo ra khi các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị và cả hệ thống chính trị có sự chủ động phối hợp với nhau một cách chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất. Thực tế thời gian qua cho thấy trong từng nhiệm vụ, từng nội dung đấu tranh cần tránh hô hào chung chung mà phải phân rõ trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất.
Phương pháp luận biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả. Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong quán triệt và xử lý mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay là góp phần định hướng phát triển đất nước theo hướng bền vững.
Phương pháp luận của phép biện chứng là những kết luận được rút ra từ việc khảo sát các mối liên hệ của các sự vật, từ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của nó, “từ các mặt liên hệ, liên kết, vận động, sinh ra và mất đi của các sự vật”. Vì vậy, phương pháp luận của phép biện chứng duy vật được coi là những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo các chủ thể trong việc xác định phạm vi, phương pháp, cách thức, phương tiện tác động nhằm tạo ra những biến đổi cho phù hợp và hiệu quả.
Mục đích, đường lối, chủ trương đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu của đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể. Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng; phải tổ chức lực lượng vật chất để thực hiện nó. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng như bộ phận cán bộ đảng viên biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã cố tình “bỏ qua” các nguyên tắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đưa ra những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch nhằm hạ thấp, thậm chí là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.
Có thể nói, thực chất của sự vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận triết học Mác-Lênin trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch đó chính là việc đảm bảo tính khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử-cụ thể, thực tiễn.
Bên cạnh việc chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Bởi đó chính là yếu tố nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Đảng ta đang tích cực đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới, Đảng cũng chủ động và linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái thù địch đối với nền tảng tư tưởng của Đảng.



















