Dòng Ô Lâu, từ nhiều thế kỷ trước, đã là chứng nhân cho quá trình chung sống, giao hòa giữa cộng đồng người Việt và người Chăm. Từ đó, những mảng màu văn hóa dần xen trộn, trở thành một phần khó tách rời trong đời sống của các ngôi làng đã và đang nhận nguồn sống từ dòng sông.

Dòng sông kết nối miền di sản
Tiếng cốc cốc gõ mạn thuyền trong sương sớm của ngư dân chài lưới như âm thanh báo hiệu ngày mới bắt đầu. Khung cảnh sinh động hiện ra trong sự nhộn nhịp của những bè tre nứa xuôi về từ phía thượng nguồn; nét trầm mặc của những mái nhà rường ven sông; dáng người đàn ông nhồi đất, nặn gốm; hay người phụ nữ tỉ mẩn dùng cỏ bàng đan thành tấm chẹ (chiếu)… Dần xa hơn phía hạ nguồn, những tấm lưới đánh cá giăng chùng trong ánh nắng ban mai, đôi bàn tay thoăn thoắt đan vá ở làng Rào (Vân Trình), lão nông vác cuốc be bờ, lũ trẻ vội lùa trâu ra đồng… Tất cả vẽ nên bức tranh đầy màu sắc nơi dòng sông cổ tích.



Không quá dài, với dòng chính khoảng 66km, Ô Lâu bắt nguồn từ những dòng suối nhỏ nơi đại ngàn Trường Sơn. Dòng sông nhiều lần đổi hướng, như muốn đem nguồn nước mát lành tưới tắm cho khắp các làng quê, trước khi hòa mình vào phá Tam Giang rộng lớn nơi Cửa Lác.
Êm đềm là thế, nhưng nếu một lần đi thuyền dọc dòng sông, bạn sẽ thấy choáng ngợp trước cảnh sắc đổi thay liên tục. Sau những bụi tre ngà, những mái nhà, xưởng mộc, lò gốm, mái đình, chùa, miếu… cứ thoắt ẩn thoắt hiện, gợi cảm giác như đang viễn du qua những miền di sản.
Những ngôi làng cổ – những điểm chạm văn hóa
Trên vùng ranh giới giữa thành phố Huế và tỉnh Quảng Trị, một hành trình xuôi theo dòng Ô Lâu từ tây sang đông, hoặc ngược lại, sẽ đưa bạn đi qua những ngôi làng chất chứa bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa. Đó cũng là những điểm chạm mở ra nhiều câu chuyện lý thú.
Từ cây thị di sản cổ thụ, miếu Quảng Tế với bộ ngẫu tượng Linga – Yoni tiêu biểu của văn hóa Champa thế kỷ 9 – 10, đến những trụ cửa, mảng trang trí phía trên khung cửa của các phế tích đền tháp rải rác bên bến sông làng Phước Tích, các dấu tích xưa vẫn lặng lẽ hiện diện dọc dòng Ô Lâu. Ở làng Mỹ Xuyên là pho tượng Phật Bà Tám Tay mang nguyên mẫu Lakshmi; ở làng Trạch Phổ, Linga được phụng thờ trong miếu Bà. Tại chùa Ưu Điềm, bức phù điêu Siva – Uma mô tả lễ rước đám cưới của thần Siva và Parvati về ngọn núi thiêng Kailasa, cùng hệ thống di vật Champa phong phú, tiếp tục gợi nhắc về một nền văn hóa từng rực rỡ trên vùng đất này. Bệ Yoni ở đình làng Thế Chí Tây cũng là một dấu tích như thế. Tiếp cận và chiêm ngưỡng những di vật ấy, du khách như chạm vào một lớp trầm tích sâu xa của lịch sử.

Khi tìm hiểu về nghề truyền thống, bạn sẽ bắt gặp những nét chạm tinh xảo trên gỗ ở Mỹ Xuyên, Hội Kỳ – nơi bàn tay người thợ góp phần làm nên hồn cốt của nhiều mái nhà rường xứ Huế. Ở làng Phước Tích, chất thô mộc, trầm ấm của gốm hiện lên qua những sản phẩm đồ đựng từng gắn bó với đời sống thường nhật. Qua con mắt tinh tường của “người canh lửa”, mỗi mẻ gốm hoàn thiện lại mang đến cho các gia đình những vật dụng quen thuộc như lu, ang, hũ, trình, thống… Từng là đồ gia dụng thiết thân trong quá khứ, nay chúng trở thành những món lưu niệm lý thú. Từ cây cỏ bàng trong môi trường sống, người dân cũng đan nên những tấm chẹ dùng trong ngày hè, rồi phát triển thêm các sản phẩm thân thiện với môi trường như mũ, nón, túi xách…


Nếu muốn chạm vào lòng tri ân và đời sống tín ngưỡng cộng đồng, bạn hãy đến nơi này vào tháng 2, tháng 3 hoặc tháng 8 âm lịch hằng năm. Vào thời điểm ấy, lễ hội tri ân tổ nghề, lễ tế làng tưởng nhớ những người khai canh, khai khẩn và lễ hội cầu mùa được tổ chức với lòng thành kính, rực rỡ sắc màu. Lễ tế tổ nghề gốm làng Phước Tích nhắc nhớ đến truyền thuyết về Ông Đôộc, vị tổ nghề có dáng vẻ khác thường, đến truyền dạy nghề gốm rồi vác túi ra đi. Về sau, để tưởng nhớ ông, người dân đã đặt tên một sản phẩm gốm là đôộc. Ngay cạnh đó, ở làng Mỹ Xuyên, lễ hội tri ân tổ nghề mộc và chạm khảm cũng diễn ra với lòng biết ơn sâu sắc. Nhưng hơn hết, khi đến với những ngôi làng cổ trong thời điểm này, những món ăn dân dã mới là điều níu chân người du ngoạn.
Từ các loại ngũ cốc được canh tác trên những biền bãi ven sông, người phụ nữ khéo léo làm nên bánh bông cây, bánh nhân sâm và nhiều món ăn dân dã. Từ bột sắn, nguồn thủy sản đánh bắt trên sông, hay đơn giản là quả mít, quả vả trong sân nhà, họ làm ra những món ăn mang đậm hồn Huế.
Hãy dành cho mình một lần tham dự lễ tế ở miếu Bà làng Trạch Phổ vào ngày 3/3 âm lịch hằng năm. Con cá vược và món chè khoai mài – những lễ vật bắt buộc phải có – sẽ cho bạn nhìn thấy một biểu hiện của tín ngưỡng cổ, phản ánh ước vọng kết nối giữa con người với thế giới tự nhiên. Đó cũng là một lớp văn hóa cổ Đông Nam Á vẫn còn hiện hữu nơi miền đất Ô Lâu.
Xem thêm các bài viết về văn hóa, du lịch, phong cách sống địa phương tại đây: https://heritagevietnamairlines.com/
















