Thứ Sáu, 4/4/2025
Hà Nội

Hanoi, VN

Weather in Hanoi, VN

25°C

[Búa Liềm Vàng 2024] Tìm hiểu tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

VNA Spirit xin đăng tải bài dự thi Giải Búa Liềm Vàng 2024 của Chi bộ KT – PVBD – Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu một tấm gương mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có tới gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức.

Có thể nói, đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng. Người quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”. 

I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên

Từ việc phân tích sâu sắc khía cạnh đạo đức của một tổ chức, hệ thống chính trị Xô-viết và của một người cộng sản chân chính đứng đầu tổ chức đó là lãnh tụ vĩ đại V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”. Người coi V.I. Lê-nin là Người thầy dạy vĩ đại của cách mệnh vô sản. 

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam được vun đắp từ hàng nghìn năm lịch sử, đồng thời có sự tiếp thu tinh hoa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định và gương mẫu thực hiện những nguyên tắc xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng là cái gốc sự phát triển của cách mạng. 

Đạo đức là một từ Hán Việt được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố trong tính cách và giá trị của một con người. Đạo đức là con đường, đức là tính tốt hoặc những công trạng tạo nên. Khi nói một người có đạo đức ý đang nói người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và có nét đẹp trong đời sống và tâm hồn. Đạo đức thể hiện thông qua nét đẹp trong phong cách sống của một người hiểu biết và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng xử, các đường lối tư duy thanh tao, tốt đẹp. Theo một nghĩa rộng hơn thì đạo đức trong một cộng đồng là những quy tắc ứng xử được áp dụng từ việc hợp với đạo lý từ xưa đến nay và phong tục của địa phương, tạo thành nét đẹp truyền thống văn hóa. 

Người coi nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức nói chung, bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên nói riêng là động lực cốt lõi làm nên những thành công của con đường cách mạng đầy gian nan. Cho đến những năm cuối cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn miệt mài viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” để căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên toàn hệ thống chính trị.

Trong Di chúc, Người chỉ rõ: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Theo Người, “đạo đức cách mạng là: Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”. Bên cạnh đó, Người cũng thường xuyên nhấn mạnh những chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng, như trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có tình nghĩa; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng, tiến bộ,…

Về đạo đức cách mạng của tổ chức Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để có một Đảng chân chính, vững mạnh, cần xác định rõ mục đích tối thượng của Đảng chính là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân mà chiến đấu và Đảng không có lợi ích riêng nào hết. Đây cũng là lý tưởng đạo đức cao đẹp của Đảng, của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với đó, Người chỉ rõ, đạo đức chính là ở chỗ làm cho lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin thấm sâu vào tư tưởng và hành động của từng cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng, “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”, có ý chí, khát vọng, quyết tâm đêm ngày đều “nghĩ đến sự nghiệp cách mạng và cứu độ nhân loại”.

Theo đó, trong đời hoạt động cách mạng, Người luôn chú trọng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng; khuyến khích đội ngũ cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin, nhất là trong những điều kiện, hoàn cảnh mà nhiều cán bộ, đảng viên có trình độ lý luận chính trị rất thấp. Người khẳng định, “có thể tránh được biết bao bế tắc, sai lầm và biết bao thất bại đau đớn, nếu chúng ta có thể cung cấp cho các đồng chí ấy những kiến thức tối cần thiết về lý luận soi đường, tạo điều kiện dễ dàng cho các đồng chí ấy tiến hành công tác” và thường xuyên căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tích cực vận dụng và phát triển lý luận Mác – Lê-nin một cách sáng tạo, luôn bổ sung, làm giàu lý luận bằng những kiến thức thực tiễn mới, tránh giáo điều. 

Xuất phát từ tình hình thực tế trong Đảng cũng như bối cảnh lịch sử đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích: “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”; Người lý giải: “Đảng ta là một Đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”.

Theo đó, Người cảnh báo: “Có những người trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ cực khổ, không sợ quân địch, nghĩa là có công với cách mạng. Song đến khi có ít nhiều quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, không tự giác, mà biến thành người có tội với cách mạng”. Từ rất sớm, Người đã chỉ ra những nguy cơ suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức vị cao. Do đó, nếu không giữ được đạo đức cách mạng thì đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ dễ bị tha hóa, tự đánh mất mình, sa vào suy thoái, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sỹ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên… Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và kỷ luật”.

Khẳng định vai trò tiên quyết của việc nêu gương, Người cho rằng lãnh đạo, người đứng đầu phải thật sự gương mẫu, làm gương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”.

II. Quan điểm về vai trò và sức mạnh của đạo đức cách mạng

1. Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng

Đạo đức cách mạng luôn được coi là phẩm chất đầu tiên, là vấn đề gốc để giải quyết công việc cách mạng. Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Người đã viết như vậy trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947. Người cũng viết: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang”. Như vậy đạo đức được coi là gốc, là nền tảng, là sức mạnh, là tiêu chuẩn hàng đầu của một người cách mạng.

Đối với Đảng thì phải là Đảng đạo đức, văn minh. Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng mới xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Quần chúng nhìn vào Đảng, tin theo Đảng, đi theo Đảng trước hết họ sẽ nhìn vào đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

Người nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán hai chữ Cộng sản mà được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý những người có tư cách đạo đức”. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải nhận thức được đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức thì phải có tài, nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn gây hại cho nhân dân. Mặt khác phải thấy trong đức có tài. Tài càng lớn thì đức phải càng cao bởi đức và tài là nhằm phục vụ nhân dân, đưa nhân dân đến cách mạng thắng lợi. 

Như vậy có thể thấy mặc dù với quan điểm lấy đức làm gốc nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Đức và tài phải luôn đi đôi với nhau. Theo Người, “có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó, có tài không có đức là người vô dụng”.

Người cho rằng người cách mạng phải có cả đạo đức và tài năng, tài càng cao thì đức phải càng lớn, không thì chỉ có tài mà đức không có, đức mỏng thì dễ dẫn đến tham ô, bòn rút công quỹ… hậu quả khó có thể lường trước được. Và Người cũng căn dặn: “Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai”. 

2. Đạo đức là thước đo lòng cao thượng, là nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, của con người

Trong bài Đạo đức cách mạng năm 1955 Bác có viết: “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”. Thực hành tốt đạo đức cá nhân không chỉ có tác dụng tôn vinh nâng cao giá trị của mình mà còn tạo ra sức mạnh nội sinh giúp ta vượt qua mọi thử thách. “Có đạo đức cách mạng khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước…, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”. Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ. 

3. Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội

Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội là ở những giá trị đạo đức cao đẹp và nhân văn. Chính những giá trị đạo đức cao đẹp, những phẩm chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp trở thành hiện thực tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội. Đạo đức là cơ sở là điều kiện để phát huy, phát triển tài năng của người cách mạng.

III. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng

1. Trung với nước, hiếu với dân

Trung với nước và hiếu với dân là phẩm chất, chuẩn mực có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của một người cách mạng, là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá đạo đức của con người, của mỗi chiến sỹ cách mạng. Mỗi con người đều có nhiều mối quan hệ khác nhau nhưng trong đó quan hệ với nhân dân, với đất nước, với dân tộc của mình là mối quan hệ lớn nhất, là tâm điểm, là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá đạo đức con người của mỗi chiến sỹ cách mạng. Đó là phẩm chất bao trùm, chi phối các phẩm chất đạo đức khác.

“Trung – Hiếu” là những khái niệm đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức phương đông. Theo đó, Trung là trung quân, trung với vua. Vì vua với nước là một. vua là vua của nước còn nước là nước của vua, vua trên cả nước. Lời nói của vua là lời vàng, ý ngọc – là thánh chỉ, các thần dân dù là đại thần của triều đình hay là dân đen đều phải nhất nhất tuân theo. Vua bảo chết thì bề tôi cũng phải chết. Còn Hiếu là hiếu với cha mẹ, thu hẹp trong phạm vi gia đình. Hiếu với cha mẹ là đạo đức tối thiểu của con người. Điều tối thiểu mà không làm được thì đừng nói gì đến đạo đức công dân.

Nói tóm lại, Trung và Hiếu trong đạo đức tuyền thống dân tộc và phương đông được đề cập rất hạn hẹp trong mối quan hệ cá nhân vua – tôi, con với cha mẹ. Còn với Bác, Trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước, trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng, phải đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc lên trên hết. Nước ở đây là nước của dân, còn dân là người chủ của đất nước. Người đặt vấn đề: “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “bao nhiêu lợi ích đều của dân”, “bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đảng và Chính phủ là “đầy tớ của nhân dân” chứ không phải “quan nhân dân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân”, thì quan niệm về mối quan hệ giữa nước và dân đã hoàn toàn đảo lộn so với trước đây.

Theo đó trung với nước là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trung với nước cũng đồng nghĩa là Trung với Đảng, trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc do Đảng lãnh đạo: “Điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”.

Hiếu với dân là phải yêu dân, tôn trọng dân, lấy dân làm gốc, đề cao tinh thần phục vụ nhân dân có trách nhiệm trước dân, phải luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. “Hiếu với dân” theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là nước lấy dân làm gốc, dân là chủ của đất nước. Người đặt vấn đề: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, “quyền hành lực lượng đều ở nơi dân”, “Đảng và Chính phủ là đẩy tớ của nhân dân”.

Do đó trung với nước thì bao giờ cũng phải đi đôi với hiếu với dân. Vì vậy phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Và ở đây có thể thấy đối tượng, phạm vi của chữ hiếu đã được mở rộng, người cách mạng không hề lấy cái chung che lấp cái riêng mà trong hiếu với dân đã bao hàm trung hiếu với cha mẹ. Hiếu với dân là phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước, quyền thì hưởng còn trách nhiệm thì phải làm tròn.

Như vậy, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trong quan hệ Vua – Tôi, con cái với cha mẹ, quan hệ cá nhân với gia đình mà ở đây Trung với nước và Hiếu với dân phản ánh mối quan hệ mang tính cộng đồng, mang tính xã hội, có tính mục đích và tính hiệu quả. 

Những chuẩn mực đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh được các thế hệ Đảng viên tiếp nối và noi theo

2. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình

Đây là phẩm chất kế thừa, phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Yêu thương con người không chỉ với nhân dân, với đồng bào của mình mà còn phải dành cho nhân dân thế giới.

Yêu thương con người là một tình cảm rộng lớn. Nổi bật trong tình yêu thương con người là sự bao dung, độ lượng, gắn liền với sự tin tưởng vào những khả năng, phẩm giá tốt đẹp của con người và tạo mọi điều kiện cho con người vươn lên tự hoàn thiện. Người nói: “Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người này nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Yêu thương con người không phải là sự nuông chiều, thả mặc, dĩ hòa vi quý, bao che khuyết điểm mà phải quan tâm giúp đỡ họ trên tinh thần đấu tranh phê và tự phê bình để không ngừng phát triển.

3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Đây là những phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mọi người, đòi hỏi mỗi người phải lấy bản thân mình làm đối tượng điều chỉnh. Quan niệm của Người về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như sau:

+ Cần tức là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai. Đó chính là siêng học, siêng làm, siêng suy nghĩ đem lại kết quả to lớn. Muốn có năng suất, hiệu quả thì phải có kế hoạch, có tổ chức khoa học, thực hiện la động sáng tạo trong mọi công việc. Cần không có nghĩa là làm nhiều nhưng hiệu quả không cao, lãng phí sức lao động “dã tràng xe cát Biển Đông/ Suốt đời mà chẳng nên công cán gì”. Trái với “cần” đó là lười biếng, biếng học, biếng làm, không chịu động não tư duy. Việc dễ thì dành cho mình, việc khó thì tìm cách lẩn tránh đẩy cho người khác. Một người lười biếng có thể làm ảnh hưởng tới hàng nghìn, hàng vạn người. Vì vậy lười biếng là có tội với tổ quốc, với đồng bào.

+ “Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi. Tiết kiệm cả về vật chất, công sức lao động, thời gian, tiền của. Đấu tranh với suy nghĩ chưa đúng. Trái với kiệm là xa hoa và lãng phí, bừa bãi làm tốn thời gian, tiền của một cách vô ích. “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ, nhân dân phải nhịn ăn, nhịn mặc. Nói theo lối khoa học thì tiết kiệm là tích cực chứ không phải là tiêu cực”. “Khi không nên tiêu xài thì dù một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho tổ quốc thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu cũng vui lòng. Như thế mới gọi là kiệm”

+ “Liêm” tức là trong sach không tham lam. Người giữ được chữ liêm là người không tham tiền của, công danh, địa vị… Nếu sa vào những tội lỗi ấy, là người “bất lương” , trái với liêm đó là “bất liêm”, tức là tham lam, là đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Cậy quyền cậy thế mà đục khoét nhân dân. ăn của đút, của trộm của công làm của tư, dẫn đến xa hoa, lãng phí. tiêu sài bừa bãi… là một điều rất xấu hổ và có tội với nước, với dân.

+ “Chính” ở đây nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Việc gì cũng phải công minh chính trực, không tư ân tư huệ, tư thù, tư oán. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở. Đối với người thì không nịnh hót người trên, xem thường khinh nhường người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên việc tư, làm việc gì thì cho đến nơi, đến chốn, không ngại khó khăn, không ngại nguy hiểm, cố gắng hoàn thành tốt cho nhân dân, cho đất nước. Trái với chính cũng là tà, là ác, là không thẳng thắn, không đứng đắn, là hủ hóa, là xấu xa và kiêu ngạo.

Có thể thấy ở đây giữa bốn phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính có một mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Đây đều là bốn đức tính cần thiết đối với tất cả mọi người như trời có bốn mùa, đất có bốn phương, là thước đo phẩm chất và trình độ bản chất người trong mỗi con người. Nó là thức đo phẩm chất của con người, trình độ của con người. Bác từng nói: “Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Người có bốn đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất, thiếu một đức không thành người”.

+ Còn “Chí công vô tư” là đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân, của tập thể lên trên, lên trước lợi ích cá nhân. Chí công vô tư phản ánh ba vấn đề: Chí công vô tư đối lập với chủ nghĩa cá nhân; Chí công vô tư đề cao chủ nghĩa tập thể; Chí công vô tư là sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Đối lập với chí công vô tư là dĩ công vi tư, đó là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, là một thứ vi trùng độc hại, là căn nguyên và gốc rễ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, thói hư tật xấu: Tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh, óc địa phương hẹp hòi, kéo bè, kéo cánh, quan liêu, độc đoán, tham ô, tham nhũng. 

Như vậy có thể nói, những chuẩn mực đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những đức tính tốt, những phẩm chất cao đẹp, là lối sống của mỗi cán bộ, mỗi đảng viên

4. Tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung

Và cuối cùng nhưng cũng chẳng kém phần quan trọng đó là phải có tinh thần quốc tế, trong sáng và thủy chung. Phẩm chất này bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, gắn mục tiêu cách mạng mỗi nước với mục tiêu chung của thời đại. 

Với cách mạng Việt Nam, theo Người “Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả. Đã là đồng chí thì sung sướng cực khổ đều phải có nhau”. 

IV. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng mới

Từ những quan điểm về đạo đức cách mạng nêu trên, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra ba nguyên tắc để xây dựng lên đạo đức cách mạng. Theo đó:

Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức. Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm. Nói đi đôi với làm, trước hết là sự nêu gương tốt ví như sự nêu gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, lãnh đạo với nhân viên… Đảng viên phải nêu gương trước quần chúng. 

Hai là, xây đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện đạo đức sai trái, xấu xa, không phù hợp với những yêu cầu của đạo đức mới. Xây đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Xây dựng đạo đức mới trước hết phải đẩy mạnh việc giáo dục, từ trong gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hóa sát hợp với từng tầng lớp, đối tượng. 

Ba là, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Trong rèn luyện đạo đức, Người coi việc tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng. Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cùng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong mọi mối quan hệ của mình, trong sinh hoạt cộng đồng. Không thể là chiến sĩ thi đua ở nơi công tác khi về nhà lại mắng vợ chửi đời, đánh con. Những người như thế không phải là người có đạo đức cách mạng.

Tóm lại, việc tu dưỡng đạo đức của mỗi người cần phải được làm thường xuyên và phải tu dưỡng, rèn luyện suốt đời. Việc tu dưỡng đạo đức phải thực hiện trong thực tiễn hoạt động hàng ngày, trong lao động sản xuất và thể hiện ngay trong mối quan hệ hàng ngày.   

V. Liên hệ của đạo đức cách mạng trong thực tiễn hoạt động của chi bộ

Trong những năm qua, các Đảng viên trong chi bộ KT-PVBD luôn có ý thức giữ gìn đạo đức cách mạng, luôn tuân theo và làm tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy cấp trên, của lãnh đạo công ty. Chủ động tuyên truyền, ngăn ngừa và đấu tranh với các tư tưởng và hành vi trái với các nguyên tắc đạo đức cách mạng. Trong chi bộ không có hiện tượng đảng viên có các biểu hiện về tư tưởng hành vi trái với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và công ty. Chi bộ luôn quan tâm và theo sát quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của các Đảng viên trong chi bộ.  

Thường xuyên thông tin cũng như hỏi ý kiến các đảng viên với các vấn đề của trung tâm. Tổ chức cuộc họp chi bộ hàng tháng để kịp thời triển khai các nghị quyết của cấp trên và các hoạt động đang diễn ra trong chi bộ nhằm nắm bắt đúng tâm tư, nguyện vọng của các Đảng viên để đưa ra được hướng dẫn và điều chỉnh lại tư tưởng, hành vi cho phù hợp.

Công tác quản lý, giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho đảng viên cũng được chi bộ quan tâm thông qua các hình thức sinh hoạt, học tập. Phẩm chất đảng viên trong chi bộ được giữ vững, không có đảng viên thoái hoá, biến chất, tiêu cực, nghiện hút ma túy. Các đảng viên được quản lý qua công việc hàng ngày, trong các đợt sinh hoạt chi bộ thường xuyên nhắc nhở việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên. 

Chi bộ tổ chức sinh hoạt theo quy định, tại các cuộc họp đều nhấn mạnh vai trò người đảng viên trong mọi hoạt động tại Trung tâm, làm gương sáng đạo đức cho quần chúng để họ có thêm mục tiêu phấn đấu vào Đảng. Trong Đảng bộ không có đảng viên suy thoái về tư tưởng đạo đức lối sống. Bản thân các đảng viên tại từng vị trí làm việc nói chung đều cố gắng hoàn thành tốt các nhiệm vụ của mình. Đội ngũ cấp chi ủy, đảng viên đều có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực trình độ và bản lĩnh chính trị. Thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Công ty. Liên tục tìm hiểu và tìm cách thức sao cho ứng dụng nhuần nhuyễn được các nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong thực tế sản xuất và sinh hoạt của Chi bộ.

Share bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chào mừng trở lại!

Đăng nhập vào tài khoản của bạn dưới đây

Lấy lại mật khẩu của bạn

Vui lòng nhập tên người dùng hoặc địa chỉ email để đặt lại mật khẩu của bạn.