96 năm Ngày thành lập Đảng: Mùa xuân 1930 và bài học chủ động mở đường cho kỷ nguyên phát triển mới

Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây là sự kiện trọng đại, mang tính bước ngoặt trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam. Từ nay, cách mạng Việt Nam có tổ chức tiên phong, có cương lĩnh, đường lối, xác định rõ và đúng mục tiêu, nhiệm vụ, đảm đương sứ mệnh lãnh đạo, dẫn dắt các tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Chủ động mở đường

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở kết hợp 3 yếu tố: Chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Các thế hệ ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, đại học khi học lịch sử Việt Nam hiện đại đa số thuộc nằm lòng nội dung quan trọng này. Tuy nhiên, nếu không đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng thì sự kiện trọng đại này sẽ thiếu một nhân tố có vai trò và ý nghĩa quyết định.

Tranh về Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930. (Ảnh: Bảo tàng lịch sử Quốc gia)

Vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thể hiện ở nhiều nội dung. Đầu tiên là chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng: Sau khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất các luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (7.1920), tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc nhận thức rõ sự cần thiết phải xây dựng một chính đảng vô sản theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin để tuyên truyền, tập hợp và lãnh đạo nhân dân đấu tranh; tổ chức đảng này phải liên hệ mật thiết và nhận sự chỉ đạo, giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản. Từ nhận thức đó, Người đã tích cực bắt tay xây dựng về chính trị, tư tưởng và tổ chức chuẩn bị các tiền đề cần và đủ cho sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam.

Trước đó, Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (12.1920), trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Cuối năm 1921, Người đồng sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa và phụ trách tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) – cơ quan tuyên truyền của Hội. Giữa năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (VNCMTN), đồng thời phụ trách tờ báo Thanh Niên, cơ quan ngôn luận, tuyên truyền của Hội. Hội VNCMTN được tổ chức thành 5 cấp: Tổng bộ, Kỳ bộ, Tỉnh bộ, Huyện bộ và Chi bộ. Người trực tiếp tổ chức các khóa huấn luyện chính trị, viết bài giảng, lên lớp đồng thời chọn cử một số hội viên ưu tú vào học Trường quân chính Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc). Người chủ trương học đi đôi với hành, nên đã đưa nhiều học viên đi vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, khu lao động thực hiện “vô sản hóa”. Số lượng hội viên của Hội tăng nhanh, có lúc lên tới 1.700 người. Các Kỳ bộ VNCMTN ở Bắc kỳ, Nam kỳ, Trung kỳ sau này đã phát triển thành Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vào nửa cuối năm 1929. Đây là cơ sở để hợp nhất thành một tổ chức đảng cộng sản chung cho Việt Nam.

Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động đứng ra tổ chức Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Sau khi thành lập, các tổ chức cộng sản nảy sinh mâu thuẫn trong tuyên truyền, kết nạp quần chúng. Nắm được thông tin Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã 2 lần tổ chức hợp nhất nhưng không thành, mặc dù đang hoạt động ở Thái Lan, Người đã nhanh chóng tìm cách đến Hương Cảng (Trung Quốc), lấy danh nghĩa phái viên của Quốc tế Cộng sản, triệu tập các đại biểu của 2 đảng nêu trên, tổ chức Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng. Điều cần nhấn mạnh về sự chủ động của Người là ở chỗ mặc dù không nhận được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản nhưng với trách nhiệm được phân công từ trước là theo dõi, phát triển các tổ chức cộng sản, cơ sở cách mạng ở khu vực Đông Nam Á và uy tín cá nhân, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất, dẫn đến sự ra đời của Đảng.

Đại hội XIV của Đảng mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Trong ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư ra mắt tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XIV. (Ảnh: TTXVN)

Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động soạn thảo Cương lĩnh Chính trị đầu tiên có những quan điểm khác với Quốc tế Cộng sản. Có 3 điểm khác biệt cơ bản: một là, Người nhấn mạnh sự ưu tiên thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa như Việt Nam. Người cho rằng có giải phóng được dân tộc thì mới giải phóng được giai cấp. Theo Người, Việt Nam là một nước thuộc địa, hơn 90% dân số là nông dân, lúc này số lượng giai cấp tư sản và giai cấp công nhân còn rất ít, vì thế không thể hiện rõ cuộc đấu tranh giai cấp như ở các nước châu Âu. Vấn đề dân tộc ở Việt Nam chính là vấn đề nông dân, giải phóng dân tộc cũng chính là giải phóng nông dân. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trong khi đó, Quốc tế Cộng sản ưu tiên nhiệm vụ đấu tranh giai cấp với lập luận là có giải phóng được giai cấp, mang lại quyền lợi dân chủ cho người dân thì mới huy động được họ tham gia đấu tranh giải phóng dân tộc.

Hai là, Quốc tế Cộng sản xác định lực lượng chủ yếu tham gia đấu tranh là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, còn quan điểm của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là ngoài 2 giai cấp nêu trên, cần phải tìm cách lôi kéo các tầng lớp trung gian gồm tư sản, địa chủ, trí thức và các giai tầng khác có tinh thần dân tộc tham gia công cuộc giải phóng. Quan điểm đại đoàn kết dân tộc của Người đã được thể hiện rất rõ trong quá trình thành lập Đảng. Ba là, Người chủ động đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam trong khi Quốc tế Cộng sản muốn lấy tên là Đảng Cộng sản Đông Dương.

Bài học tư duy trong kỷ nguyên mới

Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ động tổ chức thành lập Đảng, chủ động đưa quan điểm của mình vào Cương lĩnh và được Hội nghị thông qua đã làm cho Quốc tế Cộng sản không đồng tình. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 10.1930, Hội nghị T.Ư lần thứ nhất của Đảng đã ra Án nghị quyết thủ tiêu các văn kiện đã được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, biểu quyết thông qua Luận cương Chánh trị và đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Người chấp hành và chấp nhận tất cả những quyết định của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó. Trong những năm tháng khó khăn của thập niên 1930, Người vẫn giữ niềm tin vào quan điểm, nhận thức của mình là đúng đắn. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra đầu tháng 9.1939, Đảng họp Hội nghị T.Ư lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định), chủ trương ưu tiên nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất. Như vậy, quan điểm của Người về giải phóng dân tộc đã được Đảng xác định và tập trung lãnh đạo thực hiện đưa đến thắng lợi vang dội trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Vai trò, sự chủ động, sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng và định ra đường lối cho cách mạng Việt Nam cho đến nay vẫn là tấm gương và bài học quý báu cho toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn cách mạng mới.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh để đất nước bước vào kỷ nguyên mới, phát triển nhanh, bền vững, cần phải chủ động xây dựng tư duy phát triển mới; xác định rõ con đường, phương thức, động lực cần có cho sự phát triển. Muốn như vậy, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hành động quyết liệt, dám đột phá, sáng tạo vì lợi ích chung.

Đồng thời, cần phải tạo được sự đồng thuận xã hội, đoàn kết, lắng nghe các ý kiến phản biện có tinh thần xây dựng. Đoàn kết sẽ tạo thành khối thống nhất, tạo nên sức mạnh. Đây chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng và của dân tộc Việt Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Nguồn: Báo Thanh Niên
Share bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chào mừng trở lại!

Đăng nhập vào tài khoản của bạn dưới đây

Lấy lại mật khẩu của bạn

Vui lòng nhập tên người dùng hoặc địa chỉ email để đặt lại mật khẩu của bạn.